Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

TRÀ BÁT BẢO-BỔ,MÁT,TIÊU ĐỘC

Trà bát bảo còn gọi là bát bảo lường xà (bát là tám, bảo hay bửu là quý, lường là đường và xà là chữ trà đọc chệch đi). Có người lại gọi là bát bảo lương trà (lương là lành, tốt). Đó là một loại nước uống đặc sản của người dân Hà Nội ở các phố cổ về mùa hè, thời tiết nóng nực. Thành phần của trà gồm lá tre 20g, để tươi; cành và lá kim ngân 5g; rễ cỏ tranh 5g; rễ ngưu tất 5g; ý dĩ 5g; thục địa 5g; cam thảo bắc 5g; mía 50g.

>>>Các bài thuốc hỗ trợ điều trị xuất huyết
>>>Rối loạn bài tiết mồ hôi,nên ăn gì?
>>>Cháo thuốc bổ dưỡng dành cho sĩ tử
Trà bát bảo
Liều lượng mỗi thứ có thể gia giảm, nhưng không nên nhiều quá làm nước nấu quá đặc. Có thể thay lá tre bằng rau má, rễ cỏ tranh bằng râu ngô, kim ngân bằng sài đất, ngưu tất bằng thổ phục linh, thục địa bằng huyền sâm hoặc hoàng tinh, cam thảo bắc bằng rễ hoặc cành lá cam thảo dây (hiện nay có xu hướng dùng cỏ ngọt vì có độ ngọt cao), ý dĩ bằng hoài sơn.

8 vị thuốc trong trà bát bảo có thể chia thành hai nhóm: nhóm những vị thuốc “mát” như lá tre, kim ngân, ngưu tất, cỏ tranh và nhóm những vị thuốc “bổ” như thục địa, ý dĩ, cam thảo, mía. Do đó, nước này có tác dụng bồi bổ, giải nhiệt, tiêu khát, lợi tiểu, giải độc, lại ngọt, thơm nên được coi là một loại nước giải khát rất tốt, nhất là với trường hợp “nhiệt”.

Những dược liệu trong trà bát bảo rất dễ kiếm trong thiên nhiên và ở các cửa hàng kinh doanh thuốc nam, thuốc bắc. Ta có thể tự pha chế trà bát bảo để sử dụng theo cách làm cụ thể như sau: Cho dược liệu đã thái nhỏ (liều lượng như đã nêu ở trên) vào nồi hoặc ấm nhôm, nấu với một lít nước đến sôi, rồi giữ âm ỉ trong 15-20 phút là được. Khi dùng, chắt lấy nước uống hay để nguội tùy sở thích của từng người. Dùng đến đâu, pha chế đến đó, không để trà lưu cữu qua ngày.

QUẾ-GIA VỊ RẤT TỐT CHO SỨC KHỎE

Quế là gia vị phổ biến ở nhiều nước. Không chỉ làm tăng hương thơm và vị ngon cho món ăn, quế còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ: từ kiểm soát lượng đường máu cho tới ngăn chặn bệnh tim mạch, từ chống hôi miệng cho đến bổ não...

>>>Cà chua-Bạn tốt của da
>>>Những ai không được dùng nhân sâm
>>>Món ăn thuốc cho người sau phẫu thuật

Quế
1. Giảm lượng đường huyết

Các chuyên gia nói rằng, những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường ăn quế sẽ giảm được lượng đường trong máu và điều trị được tiểu đường tuýp 2. Lý do là quế giúp cải thiện sự nhạy cảm của Insulin và điều chỉnh lượng đường trong máu về mức hợp lý. Mặt khác, khi cải thiện được sự kháng Insulin, nó giúp kiểm soát cân nặng, điều này cũng rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường.

2. Tốt cho tim

Quế có thể tăng cường sức khoẻ hệ tim mạch nhờ khả năng bảo vệ cơ tim khỏi bị rối loạn. Các nhà khoa học cũng tin rằng, Canxi và chất xơ có trong quế là thành phần bảo vệ tim. Chỉ cần thêm một chút quế vào trong thực đơn cũng có thể giúp bạn tránh được bệnh ở động mạch vành và huyết áp cao.

3. Chống ung thư bạch cầu

Một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy, ăn quế có thể giảm được sự phát triển của tế bào ung thư bạch cầu. Họ đã thử nghiệm ở hơn 100 người mắc bệnh ung thư bạch cầu và chia làm 2 nhóm, kết quả cho thấy, ở nhóm người được cho ăn quế, bệnh trạng đã cải thiện tốt hơn những người không ăn.

4. Chống sâu răng và hôi miệng

Từ xa xưa, quế đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới làm “kem đánh răng” nhằm giúp chống sâu răng và hôi miệng. Chỉ cần nhai một mẩu quế nhỏ cũng giúp cho bạn loại bỏ được nhiều vi khuẩn gây hôi miệng nhờ chất cay đồng thời tăng hơi thở thơm tho dễ chịu cho miệng.

5. Điều trị các vấn đề liên quan đến đường hô hấp

Quế rất hữu dụng cho điều trị cảm lạnh ngay tại nhà. Bạn chỉ cần lấy một muỗng mật ong trộn với một 1/2 muỗng quế bột và ăn, thực hiện trong 3 ngày. Cách này sẽ giúp bạn điều trị được các bệnh ho mãn tính, cảm lạnh và xoang.

6. Bổ não

Loại gia vị này cũng giúp tăng cường hoạt động của não như một chất bổ não. Nó giúp loại bỏ căng thẳng và mất trí nhớ. Các nghiên cứu cho thấy, mùi hương của quế có thể tăng cường chức năng nhận thức, giúp trí não tỉnh táo và tập trung khi làm việc. Đó là lý do tại sao mà nhiều bác sĩ khuyên bạn “thủ” ít quế trong túi để khi căng thẳng thì bỏ ra nhấm nháp.

7. Chống khuẩn

Nhờ khả năng chống khuẩn, chống nấm, chống vi rút và ký sinh trùng nên quế có thể giúp bạn chống viêm nhiễm ngoài da và bên trong cơ thể. Quế có khả năng chống viêm âm đạo, viêm loét dạ dày và chấy trên đầu theo cách đơn giản là bỏ thanh quế tươi hoặc bột quế rồi đun sôi để tắm hoặc rửa chỗ bị bệnh.

8. Làm dịu các triệu chứng liên quan đến chu kì kinh nguyệt

Khi chuẩn bị đến ngày “đèn đỏ”, bạn nên ăn một vài mẩu quế nhỏ. Nó rất hữu ích cho sức khỏe trong những ngày này như giảm chứng chuột rút và những bất tiện khác của phái đẹp.

KINH GIỚI-THUỐC QUÝ CHO MỌI NGƯỜI

Kinh giới vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc dùng làm thuốc chữa bệnh thì lấy cả cây trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.

>>>Cây mã đề làm thuốc
>>>Các bài thuốc từ ớt
>>>Lan tai cáo-Cây cảnh và cây thuốc

Kinh giới
Toàn kinh giới

Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.

Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.

Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.

Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.

Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.

Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.

Chữa sưng vú, mụn nhọt. toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.

THUỐC BỔ TỪ CỦ MÀI

Cây củ mài thuộc họ dây leo quấn, thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, màu vàng.

>>>Vị thuốc kỳ diệu:Củ tỏi
>>>Vị thuốc đa năng:Quả lựu
>>>Những lợi ich của trà thảo dược





Củ mài
Cây thường mọc hoang ở các vùng rừng núi phía Bắc và miền Trung. Nhân dân vùng núi thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn. Củ mài được trồng nhiều ở đồng bằng để làm dược liệu. Đào củ vào mùa hè – thu khi cây đã lụi, mang về rửa sạch, gọt vỏ cho vào lò xông lưu huỳnh 2 ngày đêm, sau đó phơi sấy cho đến khô.

Trong Đông y, vị thuốc từ củ mài có tên là hoài sơn, vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Thường dùng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát; thận suy, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm,… Dùng dưới dạng thuốc sắc uống hoặc tán bột uống. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số bài thuốc bổ thường dùng

-Cháo bổ tỳ: Củ mài 50g, khoai sọ 200g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn trong ngày. Thường xuyên ăn món cháo này có tác dụng ích khí (tăng thể lực), bổ tỳ vị (tăng cường chức năng tiêu hóa), dùng chữa chứng đuối sức, mệt mỏi, kém ăn, miệng khát, hay phiền táo.

-Chữa suy nhược cơ thể sau viêm đại tràng, loét dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hóa kéo dài: Củ mài 12g, bố chính sâm 16g, bạch truật 12g, biển đậu 12g, ý dĩ 12g, vỏ quýt 6g, hạt sen 12g, hạt cau 10g, nam mộc hương 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Dùng 7-10 ngày. Cây củ mài và vị thuốc hoài sơn.

Chữa chán ăn, khó tiêu do tỳ vị hư nhược

Củ mài 100g, khiếm thực 100g, xuyên tiêu 30g, gạo nếp 1.000g, đường trắng 30g. Gạo nếp ngâm một đêm, vo sạch, để khô, rang chín, tán bột. Củ mài, khiếm thực, xuyên tiêu đều sao qua, tán bột. Trộn đều hai thứ bột với nhau để sẵn. Mỗi lần ăn, lấy 30 – 60g pha với nước sôi và một ít đường trắng.

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

CÁC BÀI THUỐC HAY TỪ RAU MỌI

Rau mọi hay còn gọi là lộc mại, lục mại, mọi trắng, bọ nẹt. Là loại cây nhỏ, phân nhiều cành nhỏ, dễ gãy. Lá đơn, đa dạng, mọc so le, hình bầu dục hoặc hình mác thuôn dài, gốc tròn đầu nhọn, hai mặt nhẵn, mép có răng cưa, có hai hạch nhỏ ở chỗ tiếp giáp với phiến lá, lá kèm nhỏ, có lông. 

>>>Thuốc chữa chàm hiệu quả
>>>Những vị thuốc quý cho thai phụ
>>>Trúc đào:Dễ gây ngộ độc

Rau mọi
Lá non màu hồng đỏ. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông đơn tính.

Cụm hoa đực mọc thành bông dài, thõng xuống, hoa có cuống, hoa cái nhỏ li ti mọc đơn độc hay thành từng đôi, bầu hình cầu, rất nhẵn. Quả ba mảnh vỏ, trên mặt có những gai nhỏ, ngắn. Cây mọc chồi và ra nhiều lá non từ cuối mùa xuân cho đến hết mùa hè. Mùa ra hoa quả tháng 5 - 8.

Cây thường mọc hoang ở khắp các vùng rừng núi, trung du và đồng bằng, mọc rải rác ở dưới chân đồi, ven nương rẫy, ven đường đi hoặc trên các nương rẫy cũ do đất cằn bỏ hoang lâu ngày. Để làm thuốc dân gian thường dùng lá thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Một số địa phương còn dùng lá non nấu canh ăn.

Theo Đông y, rau mọi có vị ngọt nhạt, tính bình, có tác dụng nhuận tràng (liều nhỏ), tẩy (liều lớn), tiêu độc, sát trùng.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THUỐC NAM CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Vừng đen là vị thuốc quý cho người cao tuổi.

Đau nhức chân tay, nghẹn, nấc là các bệnh hay gặp của tuổi già. Những triệu chứng này có thể được xoa dịu bằng một số bài thuốc nam đơn giản mà công hiệu với rau má, vừng đen, lá quýt...


>>>Dâm bụt chữa bệnh tim
>>>Chữa bệnh xơ gan từ thuốc nam
>>>Quả dâu chữa bệnh

Hạt vừng đen
1. Thuốc mạnh gân xương, làm sáng mắt: Hồ dào nhân 160 g giã nhuyễn; đỗ trọng, phá cố chỉ, tỳ giải, mỗi thứ đều 160 g, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Trộn đều các dược liệu, thêm mật ong làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên vào lúc đói với rượu hòa ít muối, hâm nóng.

2. Thuốc chữa đau nhức chân tay, mình mẩy: Trâu cổ (cành lá và quả, 1000 g), đậu đen 200 g, đường kính 150 g, rượu trắng 200ml. Trâu cổ thái nhỏ, nấu với nước, cô lại gần thành cao lỏng. Đậu đen nấu mềm, nghiền nát, lọc lấy nước, trộn với cao trâu cổ, cho đường và tiếp tục cô đến khi được cao lỏng. Đổ rượu trắng vào cao, khuấy đều. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 30ml trước bữa ăn và khi đi ngủ.

3. Thuốc chữa viêm khí quản mạn tính: Chim sẻ 2 con làm sạch lông, bỏ lòng, ruột và mật, cho 15-20 g đường phèn vào bụng chim, rồi hấp cách thủy. Ăn hết trong một ngày. Dùng liên tục 3-5 ngày.

4. Thuốc chữa nấc: Tai quả hồng 8 g, đinh hương 8 g, gừng sống 5 lát giã nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 2 lần trong ngày. Có thể thêm trần bì 4 g, thanh bì 4 g hoặc bán hạ chế 2 g. Nếu cơ thể nhiệt, giảm bớt đinh hương và tăng thêm tai hồng; ngược lại cơ thể hàn lại cần nhiều đinh hương và ít tai hồng. Nhưng liều lượng của đinh hương cũng không được vượt quá 10 g.

5. Thuốc bổ: Rau má 500 g, lá dâu non 250 g, vừng đen 150 g, rễ ba kích 150 g, rễ ngưu tất 50 g, rễ hà thủ ô trắng 100 g, mật ong 250 g, đường 100 g. Các dược liệu phơi khô, tán nhỏ cùng với vừng đen, rây bột mịn, rồi trộn với đường và mật ong làm thành 100 viên. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1-2 viên.

6. Thuốc chữa nghẹn: 

- Quả phật thủ 150 g - 200g thái mỏng, phơi khô, rồi cắt nhỏ, chưng cách thủy, lấy nước uống lúc còn ấm.

- Gừng 3 lát, vỏ quýt 40gam, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml. Trước khi ăn, nhấp uống dần dần. Thuốc còn có tác dụng khai vị.

- Hạt bóng nước 100 g phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mận làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 8 viên với ít rượu hâm nóng.

TRỊ HO BẰNG VỊ THUỐC TẮC KÈ

Tắc kè (Gekko gekko L.), tên thuốc là cáp giới, một vị thuốc được YHCT sử dụng từ lâu để trị một số chứng bệnh thuộc hai tạng phế và thận. 

Theo YHCT, tắc kè có vị mặn, tính bình, hơi có độc, quy vào kinh phế, thận, với công năng bổ phế, bổ thận, định suyễn, trợ dương.

>>>Vị thuốc đa năng:Hành hoa
>>>Dâm dương hoắc trị " bệnh của đàn ông"
>>>Trúc đào:Dễ gây ngộ độc

Cách chế biến: Tắc kè lột bỏ hết phủ tạng, lấy bông tẩm cồn lau sạch máu, lấy 2 thanh tre nhỏ cài vào 4 bàn chân để cho thân tắc kè căng mỏng ra. Dùng một thanh nứa mảnh, dài, một đầu cắm vào dưới ức tắc kè, dọc theo bụng và đuôi, lấy một sợi dây cuốn chặt đuôi vào thanh nứa đó, đem phơi hoặc sấy khô. Tắc kè có nhiều chất bổ, nhất là phần đuôi, vì thê khi chế biến tắc kè cần bảo tồn đuôi.

Rượu tắc kè trị đau lưng
Tắc kè tán bột chữa ho 

Trị ho đờm, ho ra máu, hen suyễn: tắc kè cắt bỏ phần đầu, từ mắt trở lên và 4 bàn chân, cạo bỏ các vảy trắng bên ngoài thân, cắt miếng nhỏ, sao vàng, tán bột mịn, ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g vào lúc đói. Uống liền nhiều ngày cho đến khi hết các triệu chứng.

Trị ho lâu ngày, phế khí thượng nghịch, khó thở, trong đờm có máu mủ, lồng ngực bứt rứt, cơ thể mệt mỏi: tắc kè 1 đôi, hạnh nhân, cam thảo mỗi vị 200g; nhân sâm, phục linh, bối mẫu, tang bạch bì, tri mẫu mỗi vị 80g. Hạnh nhân cắt bỏ đầu nhọn, bỏ vỏ sao hơi vàng; cam thảo, nhân sâm chích nước gừng; tang bạch bì chích mật ong; bối mẫu, tri mẫu sao vàng. Tất cả tán bột mịn, trộn đều, đóng vào lọ thủy tinh có nắp kín, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6 - 8g. Uống liền 3 - 4 tuần lễ, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp liệu trình nữa.

Trị ho, mặt và chân tay bị phù nề: tắc kè 1 đôi, nhân sâm 20g (hoặc đảng sâm 40g). Tắc kè bào chế như trên, nhân sâm hoặc đảng sâm chích gừng. Tất cả tán bột mịn, bảo quản trong lọ có nắp kín, ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 4 - 6g, trước bữa ăn.