Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

TRÚC ĐÀO-DỄ GÂY NGỘ ĐỘC

Trúc đào (Nerium indicum Mill.) thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), có tên khác là đào lê, là cây hoa đẹp được trồng làm cảnh ở các vườn hoa công viên, đường sá, vườn nhà. Thời cổ xưa, người ta ngâm lá trúc đào với rượu để bôi ngoài chữa rắn cắn. Ở Việt Nam, dân một số vùng cũng dùng trúc đào để chữa ghẻ bằng cách giã lá đắp trực tiếp hoặc nấu nước đặc rửa nhưng rất nguy hiểm.

Trúc đào
Vì toàn cây trúc đào có nhựa đục rất đắng và độc, acid hydrocyanic và những glucosid độc là oleandrin, neriin, neriantin. Y học cổ xưa đã công nhận trúc đào rất độc. Bò, ngựa ăn phải một số lá trúc đào tươi đã bị ngộ độc. Người ăn thịt súc vật chết vì lá trúc đào cũng bị ngộ độc. Qua thử nghiệm người ta thấy rằng, người uống phải nước có lá trúc đào rơi vào hay nước ngâm rễ trúc đào sẽ bị trúng độc.

Vỏ và gỗ còn tươi của thân cành trúc đào độc hơn lá. Ở đảo Corse, Pháp, có trường hợp ngộ độc vì ăn chả nướng xiên bằng cành trúc đào và uống nước đựng trong chai nút bằng gỗ trúc đào. Hoa trúc đào tuy độ độc thấp hơn ở các bộ phận khác, nhưng rơi vào nước cũng làm nước nhiễm độc. Chất độc vẫn không bị phá hủy ở các bộ phận của cây trúc đào đã được đun sôi hoặc sấy khô. Người ta còn cho rằng, mật ong chứa mật hoa và hạt phấn hoa trúc đào cũng độc.

Những triệu chứng ngộ độc trúc đào biểu hiện ở trạng thái khó chịu, bải hoải chân tay, buồn nôn, chóng mặt (với liều nhỏ); tiêu chảy ra máu, rối loạn hô hấp, nôn mửa, chân tay co giật, loạn nhịp tim, mạch nhỏ yếu đi tới hôn mê và tử vong (với liều cao). Do đó, không trồng trúc đào ở cạnh nguồn nước như giếng, ao, bể nước; không buộc hoặc thả gia súc dưới gốc cây trúc đào, không để trẻ nhỏ nhặt chơi hoa trúc đào vì trẻ dễ cho hoa vào miệng; không dùng lá trúc đào chữa bệnh ngoài da dưới bất kỳ hình thức nào.

NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ CHO THAI PHỤ

Trong kho tàng dược liệu quý giá của nước ta, nhiều vị thuốc có tác dụng rất tốt cho thai phụ, những dược liệu này được gọi là những thuốc an thai. Với mong muốn năm Nhâm Thìn có được những “rồng con” khỏe mạnh, xin giới thiệu một số vị thuốc quý thường dùng cho phụ nữ mang thai.

Sa nhân làm an thai trong trường hợp thai động không yên,ra máu
Trữ ma căn: Vị thuốc là rễ đã phơi hoặc sấy khô của cây gai, tên khoa học là Boehmeria nivea (L) Gaud, họ gai Urticaceae. Cây sống lâu năm, thuộc loại nửa bụi, có thể cao tới 1,5 - 2m, mọc khắp nơi trong nước, thường lấy sợi và lấy lá làm bánh. Rễ củ thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa thu đông. Trữ ma căn vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh phế, tỳ, can. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ, thông lâm, an thai. Dùng trong các trường hợp đơn độc, sang lở, đái buốt, đái dắt, phụ nữ có thai đau bụng, ra huyết, xích bạch đới, viêm cổ tử cung. Liều dùng 10 - 20g.

Tô ngạnh: là cành đã phơi hay sấy khô của cây tử tô có tên khoa học là Perilla frutescens (L) Britt, họ Hoa môi Lamiaceae, là loại rau thơm phổ biến. Tô ngạnh vị cay, tính ôn, vào hai kinh phế, tỳ. Tác dụng thuận khí, an thai. Dùng trong trường hợp khí nghịch lên gây đau bụng, động thai. Liều dùng 6 -12g.

Bạch truật: Vị thuốc là rễ cây bạch truật, tên khoa học Astractyloides macrocephala, Koidz, họ cúc Asteraceae. Cây mọc lâu năm cao khoảng 70 - 80cm. Rễ phát triển thành củ to và mầm. Rễ cây thu hái vào mùa đông khi lá ngả vàng. Cây được di thực về trồng ở một số nơi kể cả vùng núi và đồng bằng. Thuốc có vị ngọt, đắng, quy kinh tỳ, vị. Tác dụng kiện tỳ vị, tiêu thực, lợi thủy, ráo thấp, cố biểu, liễm hãn, an thai, chỉ huyết. Trường hợp động thai, ra huyết có thể dùng bạch truật. Liều dùng 6 -12g.

Tục đoạn: dùng rễ của cây tục đoạn, tên khoa học là Dipsacus japonicus, Mig, họ tục đoạn Dipsacaceae. Là loại cây thảo, cao chừng 1,5 - 2m, rễ củ không phân nhánh, thân đứng có khía dọc, có gai thưa. Vị thuốc còn có tên tiếp cốt thảo. Cây có ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, nhất là ở Sa Pa (Lào Cai). Tục đoạn có vị đắng, tính hơi hàn, quy hai kinh can, thận. Tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, thông điều huyết mạch, chỉ thống, trị phong thấp, chấn thương, xương khớp sưng đau, an thai, chỉ huyết. Dùng tốt trong các trường hợp động thai, đau bụng, ra huyết. Liều dùng 6 -12g

Tang ký sinh: là toàn thân của cây tầm gửi cây dâu, tên khoa học Loranthus parasiticus (L), Merr, họ tầm gửi Loranthaceae. Thuốc có vị đắng, tính bình, vào hai kinh can, thận. Tác dụng trừ phong thấp, kiện cân, cường cốt, hạ huyết áp, dưỡng huyết, an thai. Dùng cho thai phụ huyết hư dẫn đến động thai, ra huyết. Liều dùng 8 -12g.

Sa nhân: Vị thuốc là hạt của cây sa nhân Amomum (wall ex Bak) vilosum, Lour.Var Xanthioides A, Longiligulare T.L Wu, họ Gừng Zingiberaceae. Cây thảo sống lâu năm, cao chừng 1,5m, phổ biến ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Quả được thu hái vào tháng 8 dương lịch. Thuốc có vị cay, tính ấm, quy vào kinh tỳ, thận, vị. Tác dụng lý khí hóa thấp, trừ thấp, giảm đau. Làm an thai trong trường hợp thai động không yên, ra máu. Liều dùng 2 - 4g.

Ngải diệp: là lá của cây ngải cứu tên khoa học Artemisia vulgaris L. Họ cúc Asteraceae. Loại cây thảo, dùng làm rau ăn. Thành phần hóa học chủ yếu là tinh dầu. Ngải diệp vị đắng, cay, tính ấm, quy kinh can, vị. Tác dụng điều hòa khí huyết, ôn kinh, tán hàn, giải cảm, giảm đau, an thần, kiện vị, an thai. Liều dùng 6 -12g.

Đỗ trọng: Vị thuốc là vỏ phơi hay sấy khô của cây đỗ trọng, tên khoa học Eucommia ulmoides olive. Là loại cây gỗ cao 10-20m, được di thực về Việt Nam nhưng chưa nhiều. Trên thị trường chủ yếu là nhập từ Trung Quốc. Đỗ trọng vị cay, tính ấm, quy kinh can, thận. Tác dụng bổ can thận, mạnh cân cốt, bình can, hạ áp, dưỡng huyết, an thai. Dùng trong trường hợp thai động, ra huyết. Liều dùng 8 - 16g.

A giao: là cao da lừa. Thành phần hóa học chứa collagen, khi thủy phân cho các amino acid, ngoài ra có chất vô cơ. A giao vị ngọt, tính bình vào 3 kinh phế, can, thận. Tác dụng tư âm, dưỡng huyết, nhuận phế, chỉ huyết, an thai. Dùng cho phụ nữ rong huyết, có thai ra huyết, đau bụng hoặc sau sảy thai vẫn rong huyết. Liều dùng 6 -12g.

Ban long: còn gọi làlộc giác giao là chế phẩm cao được bào chế từ gạc hươu, nai. Thành phần hoạt chất chủ yếu gồm gelatine, các acid amin, calci phosphat, calcicarbonat, các chất nội tiết kích thích sinh trưởng. Ban long vị ngọt, tính ấm, quy kinh can, tỳ, thận là thuốc ôn bổ hạ nguyên, bồi bổ dương đạo, sinh tinh tủy, mạnh gân cốt, bổ huyết, chỉ huyết, điều hòa chức năng nội tiết, thuốc có tác dụng an thai, cầm máu. Ngày dùng 10g ăn với cháo nóng, hoặc ngâm rượu uống.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

THUỐC CHỮA CHÀM HIỆU QUẢ

Trong bệnh chàm, thương tổn lúc đầu xuất hiện trên da màu đỏ hồng. Trên nền da đỏ, xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti như rôm, mụn nước giập vỡ chảy nước vàng, sau vài ngày dịch khô thành một lớp vảy, vảy bong để lại lớp da đỏ hồng. Bệnh tái diễn thành từng đợt. Tại vùng tổn thương rất ngứa. Đông y chia bệnh thành hai thể: cấp tính và mạn tính. Tùy thể bệnh mà dùng bài thuốc thích hợp.

Ảnh minh họa
Điều trị chàm cấp tính

Thể thấp nhiệt: Da hồng đỏ, ngứa, nóng rát, có mụn nước, loét chảy nước vàng.

Bài 1: Nhân trần 20g; thổ phục linh, kim ngân, mỗi vị 16g; khổ sâm, hoàng bá nam, hạ khô thảo, ké đầu ngựa, mỗi vị 12g; hoạt thạch 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Sinh địa, kim ngân hoa, hoạt thạch, mỗi vị 2g; đạm trúc diệp 16g; hoàng cầm, hoàng bá, phục linh bì, khổ sâm, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 3: Nhân trần 20g, trạch tả 16g, hậu phác, phục linh, trư linh, mỗi vị 12g; trần bì 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 4: Sinh địa, mã đề, mỗi vị 16g; ngưu bàng tử, hoàng liên, mộc thông, khổ sâm, hoàng bá, mỗi vị 12g; phục linh, thương truật, mỗi vị 8g; bạc hà 4g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 5: Gỉ sắt 4mg, rượu 50ml. Tán gỉ sắt, ngâm rượu 2 ngày. Rửa sạch chỗ chàm bôi thuốc (kết quả tác dụng tốt đối với chàm trẻ em).


Thể phong nhiệt: Da hơi đỏ, có mụn nước, phát triển toàn thân, ngứa gãi chảy nước, ít loét.

Bài 1: Thạch cao 20g; sinh địa 16g; kinh giới, phòng phong, ngưu bàng tử, khổ sâm, mộc thông mỗi vị 12g; tri mẫu 8g; thuyền thoái 6g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Trạch tả, sinh địa, mỗi vị 12g; long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, mộc thông, mã đề, sài hồ mỗi vị 8g; thuyền thoái 6g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.


Xác lột ve sầu cho vị thuốc thuyền thoái.

Điều trị chàm mạn tính

Biểu hiện: Da dày thô, khô, ngứa, nổi cục có mụn nước, hay gặp ở mặt, cổ chân, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối.

Bài 1: Thuốc mỡ: hoàng liên, hồng hoa, hồng đơn chu sa, mỗi vị 4g. Tán bột, hòa với mỡ trăn, bôi vào chỗ chàm.


Bài 2: Thuốc rửa: lá vối tươi, lá kinh giới mỗi vị 100g. Đun sôi rửa vết loét, sau dùng thuốc mỡ nêu trên bôi.


Bài 3: Thục địa, sinh địa, kinh giới mỗi vị 16g; đương quy, bạch thược, thương truật, phòng phong mỗi vị 12g; khổ sâm, thuyền thoái, bạch tật lê mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 4: Hoàng bá, hy thiêm, ké đầu ngựa, phù bình mỗi vị 12g; thương truật, phòng phong mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 5: Hoàng liên 8g, bạch thược 4g, hoàng cầm 2g. Các vị trên được tán bột khô, sắc với nước rồi lọc và thêm vào nước sắc một lòng đỏ trứng, trộn kỹ, chia uống làm 3 lần mỗi ngày nước sắc ấm.


Chàm bìu: Có 2 thể, cấp và mạn tính


Bài thuốc: hoàng cầm, sinh địa, xa tiền tử, trạch tả, mộc thông, khổ sâm mỗi vị 12g; long đởm thảo, son chi mỗi vị 8g.


Bệnh cấp tính dùng dạng thuốc sắc, mỗi ngày sắc uống một thang. Bệnh mạn tính dùng dạng thuốc hoàn, các vị được tán bột, làm hoàn, mỗi ngày uống 20g.

HOA MẪU ĐƠN CHỮA NHIỀU BỆNH

Trong Đông y thường thu hoạch những cây mẫu đơn đã trồng được 3-5 năm. Dùng vỏ rễ phơi hay sấy khô để làm dược liệu bào chế thành thuốc nên có tên thuốc là mẫu đơn bì.

Mẫu đơn có tác dụng chống co thắt cơ trơn,chống viêm,chống thấp khớp...
Các kết quả nghiên cứu về dược lý ở mẫu đơn bì cho thấy chứa hoạt chất paeoniflorin có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống viêm, chống thấp khớp, an thần, hạ sốt, giảm đau, chống loét dạ dày, chống dị ứng và chống co giật. Thuốc này còn có tác dụng gây giãn mạch vành và mạch ở cơ chân, gây hạ huyết áp, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu, ức chế sự đông máu rải rác trong mạch và bảo vệ gan chống tác dụng độc hại gan của hóa chất trong thực nghiệm trên động vật.

Trong y học cổ truyền Việt Nam, mẫu đơn bì được dùng làm thuốc trấn kinh, giảm đau, chữa nóng âm ỉ kéo dài, sốt về chiều và đêm, không có mồ hôi, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau kinh, kinh nguyệt không đều và bệnh phụ khoa sau khi đẻ. Ngày dùng 6 - 12g, dạng thuốc sắc.

Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin giới thiệu những phương tiêu biểu chữa trị có hiệu quả.
Chữa di tinh, suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; trạch tả, phục linh, phụ tử chế mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

- Chữa hen phế quản khi hết cơn hen: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù 8g, phục linh 8g, trạch tả 8g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm hoàn uống mỗi ngày 20g.

- Chữa viêm khớp cấp: mẫu đơn bì 10g, huyền sâm 20g; tiền hồ 12g, hoàng cầm 12g, tri mẫu 12g, kỷ tử 12g, sinh địa 12g, mạch môn 12g, thạch hộc 12g, thăng ma 8g; đậu khấu 6g, xạ can 6g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa tăng huyết áp: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, đương quy 8g, bạch thược 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 - 3 lần.


Mẫu đơn bì

- Chữa đau nhức do máu kém lưu thông, gây thiếu máu: mẫu đơn bì 100g, đương quy 1.000g; hoài sơn, ngọc trúc, hà thủ ô đỏ, đan sâm mỗi vị 200g; bạch linh, mạch môn, trạch tả mỗi vị 100g; thanh bì, chỉ thực, thù nhục mỗi vị 50g. Tán bột làm hoàn mỗi viên nặng 5g. Ngày uống 4 - 6g.

- Chữa viêm loét dạ dày - tá tràng: mẫu đơn bì 8g, bạch thược 12g; thanh bì 8g, chi tử 8g, bối mẫu 8g, trạch tả 8g, hoàng liên 8g, trần bì 6g, ngô thù 4g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa viêm gan siêu vi khuẩn cấp tính: mẫu đơn bì 16g, nhân trần 40g, sinh địa 24g, chi tử 16g; hoàng liên 12g, đan sâm 12g, huyền sâm 12g, thăng ma 12g, thạch hộc 12g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa xơ gan cổ trướng: mẫu đơn bì 8g, rễ cỏ tranh 20g; thục địa 12g, hoài sơn 12g, bạch truật 12g, địa cốt bì 12g; sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa suy nhược thần kinh: mẫu đơn bì 8g; kỷ tử 12g, thục địa 12g, hoài sơn 12g, câu đằng 12g, sa sâm 12g, mạch môn 12g; cúc hoa 8g, sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, táo nhân 8g, bá tử nhân 8g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa đái tháo đường: mẫu đơn bì 12g; thục địa 20g, hoài sơn 20g, kỷ tử 12g, thạch hộc 12g; sơn thù 8g, thiên hoa phấn 8g, sa sâm 8g. Sắc uống ngày một thang, chia 2.

- Chữa viêm tắc động mạch: mẫu đơn bì 12g; cam thảo 20g, đương quy 20g, kim ngân hoa 16g, xích thược 16g, qua lâu nhân 16g, ngưu tất 16g; huyền sâm 12g, đào nhân 12g, đan sâm 12g; binh lang 8g, chỉ xác 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

- Chữa đau bụng kinh: mẫu đơn bì, đào nhân, hồng hoa, huyền hồ sách, hương phụ, mỗi vị 8g, mộc hương 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

- Chữa rong huyết: mẫu đơn bì 12g, hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g; địa du, a giao, huyết dụ, bạch thược, sinh địa mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa đơn độc sưng tấy, sưng vú, viêm tinh hoàn: mẫu đơn bì, đơn đỏ, huyết giác, cam thảo dây, đơn châu chấu, chó đẻ răng cưa, huyền sâm, mạch môn, ngưu tất, mộc thông, hoàng đằng, chi tử mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

CHỮA CHÓNG MẶT,Ù TAI VỚI HẠT Ý DĨ

Hoa mắt chóng mặt theo y học hiện đại là một triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau trong đó hay gặp là tăng huyết áp, hội chứng rối loạn tiền đình, thiếu máu, xơ cứng động mạch não...

Hạt ý dĩ
Theo y học cổ truyền hiện tượng hoa mắt chóng mặt đột ngột - mặt mày xây xẩm là "huyễn vựng". "Huyễn" có nghĩa là hoa mắt, trước mắt tối sầm, không nhìn thấy gì; "vựng" là choáng váng, có cảm giác mọi vật quay cuồng, mất thăng bằng không thể đứng vững. Hoa mắt và chóng mặt hay xuất hiện đồng thời, cho nên Đông y gọi chung là "huyễn vựng".

Có nhiều cách chữa chứng bệnh hoa mắt chóng mặt, trong phạm vi bài viết này, xin giới thiệu để bạn đọc có thể tham khảo ứng dụng một số cách chữa đơn giản có tác dụng hỗ trợ nhằm cải thiện tình hình trên.

Với biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là: Thỉnh thoảng bỗng nhiên bị hoa mắt, chóng mặt, kèm theo tai ù, có tiếng như ve kêu, buồn nôn ... Mỗi khi tình cảm biến động mạnh, hoặc tinh thần căng thẳng, thì bệnh phát nặng hơn. Thường ngày hay đau đầu, thỉnh thoảng mặt đỏ bừng từng cơn, bồn chồn, dễ cáu giận, ngủ ít, mộng nhiều, miệng đắng hoặc chua, ngực sườn đầy trướng, nóng rét qua lại, lưỡi không rêu, mạch huyền (căng như dây đàn). Có thể sử dụng bài thuốc, để chữa:

Hạ khô thảo

Bài 1: Hạ khô thảo 20g, thịt lợn nạc 50g, mắm muối và gia vị lượng thích lượng. Thịt lợn nạc thái lát mỏng, cho vào nồi cùng với hạ khô thảo, thêm lượng nước thích hợp, nấu nhỏ lửa tới khi thịt chín nhừ, thêm mắm muối và gia vị, dùng làm thức ăn trong bữa trưa. Dùng liên tục 7-8 ngày.

Bài 2: Đẳng sâm 20g, bạch truật 10g, xuyên khung 5g, bán hạ chế (tẩm nước gừng, sao vàng) 10g, hương phụ (củ gấu) 15g, sài hồ 12g, kinh giới 10g, câu đằng 10g, chi tử (dành dành) 10g, cam thảo 5g. Sắc với 1500 ml nước, đun cạn còn 600ml, chia thành 3 phần uống trong ngày vào lúc đói bụng. Liên tục 7-8 ngày (một liệu trình), nghỉ 3 ngày, lại tiếp tục liệu trình khác.

Với biểu hiện bỗng nhiên hoa mắt chóng mặt, ngực ngột ngạt, lợm giọng, nôn mửa, tai ù. Thường ngày thấy đầu nặng, tinh thần thiếu tỉnh táo, người uể oải, ngại cử động, chân tay tê - trướng - đau, ăn kém, ngủ nhiều, chất lưỡu bệu ở rìa có vết răng, rêu lưỡi cáu bẩn, mạch hoạt (trơn). Có thể sử dụng bài thuốc, hoặc món ăn - bài thuốc sau:

QUẢ DÂU CHỮA BỆNH

Quả dâu (còn gọi là quả dâu ta) khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen. Quả dâu giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước, có thể ăn tươi, ngâm rượu, làm nước giải khát, làm mứt, làm vị thuốc... đều tốt, được mọi người ưa chuộng. Toàn bộ cây dâu đều là những vị thuốc, trong đó quả dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ can thận, dưỡng huyết, trừ phong, tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí... Sau đây là một số cách chữa bệnh từ quả dâu.

Dâu giàu chất dinh dưỡng,ăn mềm,chua ngọt...
Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, đen râu tóc, lợi xương khớp - Rượu tang thầm (Tang thầm tửu). Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân: Quả dâu chín tươi 5.000g, gạo nếp 6.000g, men rượu vừa đủ. Quả dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội cho cùng cơm nếp, men rượu trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30-50ml vào hai bữa cơm hàng ngày. Các tài liệu về đông y về sau nói nếu ngâm rượu dâu, nên thêm mật ong rượu sẽ ngon bổ hơn.

Cao dưỡng huyết chữa tóc khô bạc: (Trung y mỹ dung) quả dâu tươi chín 50g, đường phèn vừa đủ. Quả dâu rửa sạch cho vào nồi đất, nước vừa đủ sắc lấy nước hoà đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè. Cách này thông dụng trong nhân dân. Do không có đường phèn họ đã dùng đường hoa mơ hoặc đường trắng.

Tóc khô gẫy, rụng, chóng bạc: Quả dâu chín 100g, rượu 1/2 lít ngâm 3 ngày. Uống vào bữa cơm. Mỗi lần 20ml.

Quả dâu chín, sinh địa, mỗi thứ 30g, đường trắng 15g. Giã nát sắc uống, chia 10 lần.

Chống lão hoá: Nhức mỏi cơ xương khớp đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lú lẫn. Sách cổ gọi quả dâu là quả trường thọ.

Cháo quả dâu chín: quả dâu chín 40g, gạo 50g, đường phèn vừa đủ. Nấu cháo lỏng ăn buổi sáng (chưa ăn gì, bụng đói) rất tốt đối với người già, yếu, ốm dậy.

Bánh mè quả dâu chín: Quả dâu 30g, vừng đen 60, bột nếp 700g, bột gạo tẻ, hạt đay 10g, đường trắng 30g. Làm bánh hấp chín.

Ích thận điền tinh: Chỉ định tình dục quá độ thân khí hư hao, tinh trùng yếu gây vô sinh, xuất tinh yếu, thờ ơ tình dục, lưng gối nhức mỏi: nhau thai 1 bộ, quả dâu, phúc bồn tử, câu kỷ tử, ngũ vị tử, thổ tỳ tử mỗi vị 10g. Nhau thai làm sạch thái miếng cho cùng các vị thuốc nấu với nước vừa đủ, lúc đầu lửa nhỏ cho sôi sau hạ lửa 2 giờ, cho gia vị, ăn cách 1-2 ngày một lần, 10-15 lần trong 1 tháng.

Bổ thận âm hư: Với chứng trạng như bài trên lưng đau gối mỏi, ù tai, vô sinh do chất lượng tinh trùng kém. Câu kỷ tử 50g, sơn dược 50g, quả dâu 30g, gạo tẻ 50g nấu cháo ăn liền 1 tháng vào các buổi sáng.

Bổ thận ích tinh: Chữa thận tinh hư nhược, tinh dịch ít, tinh trùng hoạt động yếu gây vô sinh nam, ù tai, lưng gối mỏi. Đậu đen 500g, các vị sau mỗi vị 10g: quả dâu, ngũ vị tử, câu kỷ tử, thỏ ti tử, thục địa, sơn thù, phục linh, đương quy, bổ cốt chỉ, hạn liên thảo, vừng đen, địa cốt bì. Đậu đen ngâm nước. Cho các vị thuốc vào nước đun sôi, cứ nửa giờ chắt nước ra cho nước mới vào 4 lần gộp lại nấu với thuốc và đậu đen cho cạn, đậu đen phơi khô cho vào lọ. Dùng trong 1 tháng.

Mất ngủ cấp tính: Quả dâu chín tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.

Mất ngủ kinh niên: Quả dâu chín 15g, thục địa 15g, bạch thược 15g sắc uống.

Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả dâu chín 30g, ngân nhĩ 20g, ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.

Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu chín 150g, lá dâu 100g, vừng đen 100g, thêm 500g đường, cô thành cao lỏng. Uống ngày 3 lần. Mỗi lần 15g (1 thìa con).

Chảy nước mắt sống (nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả dâu chín 20g, cà chua một quả. Đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngay 1-2 lần. Đồng thời lấy lá dâu già chưa rụng nấu lấy nước rửa mắt hàng ngày.

Ăn không tiêu, trướng bụng, óc ách, tức thở: Quả dâu chín 10g, bạch truật 6g, sắc uống.

Bệnh mạch vành: Quả dâu chín 30g, câu kỷ tử 30g, gạo dính 15g. Nấu uống ngày 2 lần.

Đái tháo đường do can thận âm suy: Quả dâu chín 30g, thiên hoa phấn 20g, sinh địa 15g. Sắc uống.

Viêm gan mạn, ung thư gan: Quả dâu chín tươi 500g, bột củ ấu 50g, mật ong 30ml. Ép dâu lấy nước cô đặc, trộn bột củ ấu và mật ong nấu chín. Dùng điều trị hỗ trợ ung thư gan bị huyết hư, miệng lưỡi khô, thần kinh suy nhược mất ngủ, táo bón.

CHỮA BỆNH XƠ GAN TỪ THUỐC NAM

Bệnh cổ trướng trong y học cổ truyền tức là bệnh xơ gan của y học hiện đại. Xơ gan là do các tổ chức ở gan: tổ chức mô gan, tổ chức liên kết, hệ thống mật quản, tĩnh mạch… mỗi bộ phận này bị tổn thương ảnh hưởng đến toàn bộ tổ chức gan dẫn đến xơ gan bằng hai quá trình: viêm và thoái hóa nhu mô gan và xơ hoá tổ chức liên kết. Căn cứ vào quá trình diễn biến, tình hình nhẹ nặng và đặc điểm lâm sàng, Đông y có các bài thuốc điều trị theo từng thời kỳ:

Rau má
Thời kỳ đầu: Biểu hiện bụng to, đầy hơi, mắt vàng, gan bàn tay nóng, ăn kém, hay nôn oẹ, có sốt nhẹ, lưỡi nhờn, mạch huyền hoạt. Phép chữa: sơ can kiện tỳ, tiêu tích (làm cho gan thư thái, tỳ vị mạnh và tiêu tức là điều hoà gan và tỳ vị).

Rau má

Dùng Toa căn bản gồm: rau má 20g, lá mơ 16g, cỏ mần trầu 12g, ké đầu ngựa 12g, cỏ mực 12g, củ sả 20g, cam thảo đất 12g, rễ cỏ gianh 16g, vỏ quýt 12g, gừng tươi 12g. Đổ 1 lít nước sắc lấy 400ml chia làm 3 lần uống khi đói và khi đi ngủ.

Nếu táo bón, thêm lá muồng trâu 16g. Nếu đại tiện lỏng, thêm hoài sơn 16g, biển đậu 16g.

Thời kỳ phúc thuỷ (bụng có nước): Biểu hiện bụng càng ngày càng to hơn, mặt vàng và khô, cơ thể gầy mòn, mỏi mệt, hay ngủ, mặt hốc hác, cầu mắt lõm xuống, xương má gồ lên, đái ít, lưỡi đỏ hoặc có rêu vàng, mạch nhu hoãn hoặc trầm tế huyền sác, dùng bài thuốc sau, uống kèm với toa căn bản. Dùng bài thuốc: hắc sửu (bìm bìm) sao 40g, mộc hương 20g, thanh bì (sao) 16g, bình lang 16g, trần bì (sao) 16g, chỉ thực (sao) 16g, la bạc tử (sao) 20g, rễ cỏ gianh 20g. Các vị sao xong hợp lại sấy (phơi) khô, nghiền thành bột nhỏ mịn, đựng vào lọ kín, mỗi lần dùng 12g chiêu với nước chín, ngày 2 lần uống kết hợp uống thuốc sắc toa căn bản.

Sau 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, uống toa căn bản. 9 giờ sáng và 6 giờ chiều, uống thuốc hoàn. Nếu thấy bệnh nhân cơ thể suy yếu, có thể cho uống thêm bài thuốc bổ sau: Củ mài (hoài sơn) 20g, củ sả 16g, rễ vú bò (sao vàng) 16g, rau má 20g, bố chính sâm (tẩm nước gừng sao) 20g, ý dĩ (tẩm nước gừng sao) 20g, rễ đinh lăng nhỏ lá (tẩm nước gừng sao) 20g. Đổ 600ml nước sắc lấy 300ml chia 2 lần uống.

Thời kỳ sau (bệnh nặng): Biểu hiện bụng to, gân xanh nổi lên, mặt xanh bợt hoặc đen sạm, gầy còm chỉ thũng, sau khi ăn đầy tức không chịu nổi, chân răng chảy máu, đại tiểu tiện bất thường, buồn phiền không yên, quá hơn nữa sẽ toát mồ hôi rồi chuyển vào giật quyết lạnh và hôn mê dẫn đến tử vong. Thời kỳ này phải kết hợp điều trị bằng phương pháp y học hiện đại.

DÂM BỤT CHỮA BỆNH TIM

Những hợp chất hoá học được chiết xuất từ cây Dâm bụt sẽ giúp kiểm soát lượng cholesterol trong máu, do đó ngăn ngừa được bệnh tim.

Dâm bụt
Các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố cây Dâm bụt có tác dụng tốt cho tim người giống như Rượu vang đỏ và Trà. Nó chứa các chất chống oxy hoá có tác dụng kiểm soát lượng cholesterol và giảm nguy cơ bị bệnh tim.

Dâm bụt đã được sử dụng trong y học dân gian để chữa cao huyết áp và rối loạn gan. Nó cũng được sử dụng làm nước uống phổ biến tại nhiều nước trên thế giới. Các nhà khoa học đã thí nghiệm tác dụng của chất chiết xuất từ cây Dâm bụt trên cơ thể chuột. Họ nhận thấy khi được tiêm chất chiết xuất, lượng cholesterol trong máu chuột đã giảm đáng kể.

“Các thử nghiệm trước đây chứng tỏ rằng những hợp chất được chiết xuất từ Rượu vang đỏ và Trà làm giảm sự đông tụ lipit trong động mạch của chuột”, Chau - Jong Wang, chuyên gia tại Đại học Y khoa Chung Shan, Trung Quốc nói : “Đây là nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng Dâm bụt cũng có tác dụng tương tự và có thể dùng để ngăn ngừa bệnh tim”.

Dâm bụt ( còn gọi là cây Bông bụp - tiếng miền Nam) là loại cây nhỡ, cao từ 1 đến 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to, màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, màu vàng, hoa thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây Dâm bụt mọc hoang ở nhiều vùng nước ta và được trồng làm cây cảnh. Cây Dâm bụt còn cho lá, hoa, rễ làm thuốc.

Theo Đông y: Lá Dâm bụt vị nhạt, nhớt, tính bình, có tác dụng làm dịu, an thần, tẩy nhẹ, nhuận tràng, chữa viêm niêm mạc dạ dày, ruột, đại tiện ra máu, kiết lỵ, mụn nhọt, ghẻ lở, mộng tinh, đới hạ; hoa Dâm bụt vị ngọt, tính bình có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, sát trùng, chữa kinh nguyệt không đều, khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ; vỏ rễ Dâm bụt vị ngọt, tính bình, có tác dụng điều kinh, chống ho tiêu viêm, chữa viêm tuyến mang tai, viêm kết mạc, viêm khí quản, viêm đường tiết niệu, viêm cổ tử cung, bạch đới, kinh nguyệt không đều, mất kinh.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng Dâm bụt

Khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ: Hoa Dâm bụt hãm với nước nóng, uống thay nước chè.

Bạch đới, mộng tinh, đái buốt, đi lỵ: Lá, hoa Dâm bụt, lá Bấn, lá Thài lài tía, mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, chế nước sôi, vắt lấy nước uống.

Mụn nhọt sưng tấy: Lá và hoa Dâm bụt giã nát, đắp.

Quai bị, đau mắt: Lá Dâm bụt và lá Dành dành, mỗi thứ 1 nắm, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã đắp.

Viêm tuyến mang tai: Lá Dâm bụt 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần; bên ngoài dùng hoa Dâm bụt (20g) giã nát đắp chỗ đau.

Viêm kết mạc cấp: Rễ Dâm bụt 30g, sắc uống 3 lần trong ngày.

Kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ Dâm bụt 30g, lá Huyết dụ 25g, Ngải cứu 10g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cần uống 3 ngày liền, trước kỳ kinh 7 ngày.

Chữa di tinh: Hoa Dâm bụt 10g, hạt Sen 30g, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần, uống liên tục trong10 ngày.

Mất ngủ: Lá Dâm bụt 15g, hoa Nhài 12g, sắc uống về buổi chiều, uống liên tục trong 5 ngày.

Các nhà khoa học còn cho biết tác dụng chữa bệnh của hoa Dâm bụt được nâng cao hơn nữa nếu kết hợp với Rượu vang đỏ và Chè để làm giảm lượng cholesterol và lipit trong máu. Như vậy, Dâm bụt vừa là cây cảnh đẹp, vừa là cây thuốc quý, là nguồn gen quý của nước ta.

NỮ HOÀNG VITAMIN-HOA KIM TRÂM

Loài hoa này không chỉ trang điểm cho các phòng khách sang trọng mà còn là vị thuốc quý chữa bệnh về đường tiết niệu, chảy máu cam, động thai… Hoa Kim trâm cũng là thứ “rau” cao cấp, rất giàu vitamin.

Hoa kim trâm
Trong Y Dược học hiện đại, Kim trâm là nguồn nguyên liệu tốt để bào chế tân dược. Loại hoa này chứa nhiều chất có lợi cho sức khoẻ như protein, chất béo, nitơ tự do, đường khử, tinh bột… Nó là nguồn vitamin A, thiamin và vitamin C dồi dào.

Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Cây Kim trâm dài chừng một thước, hình như cái trâm vàng nên gọi như thế”. Nó còn có tên là Hoa hiên, Huyên thảo, Rau huyên, Hoàng hoa, Kim trâm thái… Giống cây này ưa khí hậu nhiệt đới núi cao, quanh năm ẩm mát. Ở Việt Nam, Kim trâm mọc hoang dã tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.

Từ lâu, Kim trâm đã được sử dụng như một vị thuốc dân gian có nhiều công hiệu. Lá và hoa làm thuốc chữa đổ máu cam, an thai, lợi tiểu, trừ thấp nhiệt, làm yên ngũ tạng, khỏi bốc nóng, giúp ăn ngon, ngủ yên, sáng mắt… Rễ cây vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thuỷ, lương huyết, chỉ huyết, được dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm đau, chữa sốt, lỵ, nôn ra máu, đại tiện ra máu, sỏi tiết niệu. Rễ cây cũng có tác dụng chữa ho ra máu, viêm gan, vàng da, viêm tuyến mang tai, viêm tai giữa, đau răng. Lá và rễ giã đắp có thể trị sưng vú.

Nước sắc hoa Kim trâm có thể làm tăng tiểu cầu, hồng cầu nhưng không ảnh hưởng đến số lượng và công thức bạch cầu nên có tác dụng bổ máu. Hơn thế nữa, thứ nước sắc này có tác dụng đối kháng với dicoumarin (chất kéo dài thời gian đông máu), làm giảm rõ rệt thời gian đông máu, tránh mất máu nhiều cho người bệnh.

Tuy nhiên, không nên lạm dụng Kim trâm vì với liều quá cao nó có thể gây ngộ độc với biểu hiện: không kiềm được tiểu tiện, giãn đồng tử, ức chế hô hấp… Các bài thuốc dân gian thường chỉ dùng vị thuốc này với liều lượng xấp xỉ 30g/ngày.

Ngoài tác dụng làm thuốc, Kim trâm cũng là một món ăn ngon dành cho dân sành điệu. Cách chế biến thông dụng nhất là nấu canh. Gần đây, các đầu bếp đã nghĩ ra các món như xào thập cẩm, băm lẫn với thịt nạc hay hấp cách thuỷ cùng tim, cật lợn. Dù làm cách nào, Kim trâm vẫn giữ được vị ngon, ngọt rất đặc trưng của mình.

Vài năm gần đây, nông dân một số vùng như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng)… thử trồng Kim trâm để làm cảnh và cung cấp cho địa phương làm thức ăn. Hoa Kim trâm rất ít được “xuống núi” nhưng mỗi khi xuất hiện ở Hà Nội, nó đều được bán với giá rất cao.

VỊ THUỐC ĐA NĂNG-QUẢ LỰU

Ở Việt Nam, cây lựu được trồng nhiều để lấy quả ăn, làm thuốc và làm cảnh. Cả cây lựu đều làm thuốc chữa bệnh. Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.

Lựu có nhiều tác dụng
Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh

- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.

- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.

- Phòng chữa cam tích ở trẻ em (thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.

- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè - nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.

- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.

- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.

- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.

- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.

- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.

- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.

- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 - 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.

- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.

- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương - có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.

Kiêng kỵ: - Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.

- Không dùng lựu cùng củ cải.

VỊ THUỐC KÌ DIỆU_CỦ TỎI

Theo Đông y tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn; chữa khí hư, tiểu tiện khó, bụng trướng đầy, tiêu nhọt, đờm và hạch ở phổi, tẩy uế.

Tỏi có tác dụng thanh nhiệt,giải độc...
Tỏi giúp phục hồi alycin, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể có tác dụng chống ung thư, giảm cholesterol, giảm huyết áp, có khả năng giết 60 loại nấm độc, đồng thời làm phát triển 20 loại vi khuẩn có ích đối với phụ nữ mãn kinh. Mỗi ngày ăn 1-2 nhánh tỏi rất tốt cho sức khỏe.

Tỏi hỗ trợ trị nhiều bệnh.

Một số bài thuốc kinh nghiệm có sử dụng tỏi

Dự phòng cảm mạo, cảm cúm: Giã tỏi vắt lấy nước cốt, pha thêm nước sôi để nguội, tỷ lệ bằng nhau. Dùng dịch tỏi này nhỏ mũi.

Trị cảm lạnh, ho, viêm họng, sổ mũi, ho hen: Giã tỏi nát xoa ngực cho nóng lên. Ngày làm 2-3 lần.

Chữa viêm mũi dị ứng, viêm xoang: Giã tỏi vắt lấy nước cốt trộn với dầu vừng (hoặc mật ong) nửa nọ, nửa kia, rửa mũi bằng nước muối, lau sạch, lấy bông thấm thuốc nhét vào mũi.

Chữa chảy máu cam: Giã 2-3 tép tỏi đắp vào gan bàn chân, tại huyệt dũng tuyền (ở lòng bàn chân, từ ngón chân giữa kéo thẳng xuống bằng 3 ngón tay 2,3,4 khép kín, chỗ lõm giữa 2 mô cao dày của dưới ngón chân cái và ngón chân út). Nếu chảy máu cam lỗ mũi phải thì đắp gan bàn chân trái và ngược lại... Nếu chảy cả 2 lỗ mũi thì đắp cả 2 gan bàn chân. Hết chảy máu thì bỏ tỏi rửa sạch bàn chân.

Trị ho lâu ngày, viêm khí quản mạn: Dùng 500g tỏi bóc vỏ, cho 50g muối để muối tỏi. Sau 3 ngày lấy ra hong khô, ngâm với giấm ăn, cho một ít đường, ngâm 2-3 ngày thì ăn được. Sáng sớm và tối trước khi đi ngủ ăn 1-2 tép tỏi và uống một ít giấm tỏi. Ăn 15 ngày nghỉ 3 ngày lại ăn tiếp sẽ khỏi bệnh.

Chữa lỵ, đi ngoài (phúc tả ): Dùng 5 củ tỏi to bóc vỏ, củ cải 20g. Nước vừa đủ sắc uống hàng ngày.

Huyệt dũng tuyền.

Hỗ trợ trị bệnh tim mạch: Tỏi làm giảm độ kết dính của tiểu cầu nên tránh được các cục máu đông gây tắc mạch máu, bệnh mạch vành và xơ vữa động mạch, nhờ làm giảm nồng độ cholesterol xấu (LDL) và làm tăng nồng độ cholesterol tốt (HDL)

Hỗ trợ chữa tiểu đường: Tỏi làm giảm đường trong máu và làm tăng sự bài tiết insulin - nội tiết tố điều hòa lượng đường trong cơ thể...

Chữa viêm khớp, đau khớp: Tỏi và lá lốt đun sôi để xông. Sau đó ngâm khớp tay chân đau. Nếu đau lưng, đầu gối thì lấy khăn nhúng nước thuốc nóng để chườm. Ngày làm 2 lần sáng và tối.

Chữa chứng tiểu tiện khó ở người già: Lấy 1 củ tỏi, bỏ vỏ, giã nhỏ rồi đắp vào rốn (thấy nóng quá thì bỏ ra).

Chữa sưng vú: Lấy 50-100g tỏi giã nhỏ trộn với bột mì, đường đỏ, trộn đều với nước ấm đắp nơi sưng.

Chống rụng tóc: Rụng tóc từng đám hay từng mảng đầu thì dùng tỏi bóc sạch vỏ nghiền nhuyễn được một chất dịch như cháo, đắp chất lỏng này lên chỗ tóc rụng, để 2 giờ, sau đó gội đầu thật sạch bằng xà phòng tắm hoặc nước gội đầu. Mỗi ngày làm 1 lần, liên tục trong 7-10 ngày. Nghỉ 10 ngày lại làm tiếp đợt 2 .

Để làm tóc mọc tốt và đầu sạch gàu, mỗi tuần làm 1 lần, trước khi gội đầu 2 giờ, đắp tỏi nghiền nát, hoặc nước tỏi ép lên da đầu. Nếu tóc khô thì trộn nước tỏi với bất kỳ loại dầu thực vật nào, tỷ lệ bằng nhau. Còn tóc nhờn thì không cần dầu. Làm liên tục 2-3 tháng có kết quả tốt.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TRÀ THẢO DƯỢC

Uống trà là thói quen của rất nhiều người Việt Nam, đặc biệt là trà thảo dược. Mỗi loại trà đều có một mùi thơm đặc trưng khác nhau mang lại cho người uống một cảm giác và hương vị tuyệt vời. Vậy việc uống trà sẽ có những lợi ích gì ?

Trà thảo dược phòng chống bệnh ung thư
1. Trà thảo dược giúp cho quá trình trao đổi chất được tăng cường. Giảm cân là một vấn đề của rất nhiều người, một trong những nguyên ngân gây nên béo phì là do các chất trong cơ thể không được chuyển hóa tốt. Trà sẽ giúp cho cơ thể bạn trao đổi chất tốt hơn, vì vậy bạn chỉ cần uống mỗi ngày 5 tách trà thì có thể đốt cháy 70-80 calo. Nếu dùng thường xuyên trong 1 năm bạn có thể giảm được 4kg.

2. Trà thảo dược giúp chống oxi hóa. Khi môi trường sống hiện nay ngày càng ô nhiễm thì cơ thể bạn sẽ bị tàn phá nhiều hơn đặc biệt là người già. Những tinh chất tuyệt vời có trong trà sẽ như là một lớp sơn bảo vệ cho những đồ đạc, giúp ngăn chăn quá trình oxy hóa.

3. Trà thảo dược không có calo. Nếu như trước kia con người còn thiếu cái ăn cái uống thì ngày nay việc ăn uống của chúng ta đã được nâng cấp lên rất nhiều. Điều đó cũng dẫn đến việc dư thừa calo trong cơ thể, vì vậy trà cũng là thức uống được nhiều người lựa chọn do trong trà không chứa calo. Bạn có thể giảm 0,5kg mỗi tuần nếu uống trà.

4. Caffein trong trà thảo dược có ít hơn trong cà phê. Trong khi trà chỉ chứa 30 – 40 mg mỗi tách thì một tách cà phê chứa khoảng 135 mg caffeine. Bên cạnh đó khi uống cà phê bạn sẽ có cảm giác đau đầu, bồn chồn, hó tiêu hay khó ngủ thì hãy đổi sang uống trà thảo dược.

5. Trà thảo dược phòng chống bệnh ung thư. Trong khi người ta vẫn còn nghiên cứu tổng thể chưa đưa ra kết luận thì có đủ những nghiên cứu cho thấy những hiệu quả tiềm năng của việc uống trà khiến chúng ta cần đưa trà vào danh sách những thức uống cần uống hàng ngày của chúng ta. Trong quá trình nghiên cứu một chất chống oxi hóa được tìm thấy trong trà (polyphenol), một lần nữa cho thấy trà có thể chống bệnh ung thư.

6. Uống trà thảo dược có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ và đau tim. Một nghiên cứu 5, 6 năm của Hà Lan nhận thấy nếu bạn uống 2-3 tách trà đen mỗi ngày thì bạn ít có nguy cơ mắc cơn đau tim đột tử hơn người không uống trà 70%. Uống trà có thể giữ cho các huyết mạch của bạn trơn mượt và không bị nghẽn, giống như nước giữ cho ống nước trong phòng tắm của bạn luôn sạch. Những đốm đỏ không mong muốn hình thành do cholesterol và tiểu huyết cầu có thể gây ra đau tim và đột quỵ

7. Trà thảo dược cho bạn một hàm răng chắc khòe và nụ cười ngọt ngào. Có một số ý kiến cho rằng uống trà làm cho răng xấu, đó là vì khi bạn uống trà mà bỏ thêm đường. Còn thật ra khi uống trà không đường bạn sẽ có hàm răng chắc khỏe do trong trà có chứa tannin và fluoride có thể làm răng sát lại gần nhau.

8.Uống trà thảo dược giúp cơ thể có đủ nước. Trước đây người ta cho rằng uống trà hay cà phê đều không cung cấp đủ nước cho cơ thể vì có chứa caffeine (chất caffeine giúp lợi tiểu). Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây cho thấy caffeine thật sự không phải là vấn đề - có nghĩa là những thức uống chứa caffeine và trà thật sự cung cấp lượng nước cần thiết cho cơ thể. Nhưng bạn cũng đừng nên uống quá 5 tách thức uống có caffeine cùng một lúc.

9. Trà thảo dược bảo vệ hệ miễn dịch. Một cuộc thử nghiệm trên 21 người tình nguyện uống 5 tách trà mỗi ngày trong 4 tuần, người ta nhận thấy rằng hoạt động của hệ miễn dịch trong máu của người uống trà cao hơn.

10. Trà thảo dược giúp cứng xương. Xương vững chắc không chỉ nhờ sữa cho thêm vào trà. Một nghiên cứu so sánh người không uống trà và người uống trà, nhận thấy người uống trà hơn 10 năm có xương vững chắc nhất, thậm chí sau khi cân bằng cân nặng, tuổi tác, tập luyện, hút thuốc và những tác nhân nguy hiểm khác.

Với 10 lợi ích của trà thảo dược như trên, các bạn nên uống trà thảo dược mỗi ngày để tăng cường sức khỏe cho mình nhé.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

CHỮA BỆNH BẰNG CÂY TẦM XUÂN

Tầm xuân là loại cây mọc hoang dại, một số nơi trồng làm cảnh. Trong y học cổ truyền phương Đông, tầm xuân là một vị thuốc khá độc đáo. Nó có nhiều tên khác như thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cúc, tường mi, thập tỷ muội, thất tỷ muội, dã tường vi, hòa thượng đầu... Tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng...

Cây tầm xuân
Trong sách Bản thảo cương mục, nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân đã bàn đến tính vị, công dụng chữa bệnh của tầm xuân và cho rằng loại hoa có màu trắng là tốt hơn cả. Dân gian thường thu hái hoa, quả, cành và rễ tươi hoặc khô để làm thuốc. Tùy theo từng bộ phận của tầm xuân mà tác dụng chữa bệnh cũng có những đặc điểm khác nhau.

Hoa: Thường được thu hái vào mùa xuân và mùa hạ, dùng để chữa các chứng bệnh như:

- Cảm nắng, cảm nóng vào mùa hạ: Có các triệu chứng tức ngực, buồn nôn và nôn, có thể có nôn ra máu, môi khô miệng khát, chán ăn, mệt mỏi. Dùng hoa tầm xuân 3-9 g sắc uống hoặc hoa tầm xuân 5 g, thiên hoa phấn 10 g, sinh thạch cao 30 g, mạch môn 15 g, sắc uống hoặc hoa tầm xuân 10 g và hoa đậu ván trắng 10 g, hãm với nước sôi, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà.
- Nôn ra máu và chảy máu cam: Dùng hoa tầm xuân 6 g, bạch cập 15 g và rễ cỏ tranh 30 g, sắc uống.
- Ngược tật (sốt rét): Dùng hoa tầm xuân sắc uống thay trà.
- U tuyến giáp: Dùng hoa tầm xuân 5 g, hoa hậu phác 5 g, hoa chỉ xác 5 g và hoa hồng 5 g, sắc uống.
- Tiểu đường và viêm loét niêm mạc miệng mạn tính: Dùng sương đọng trên hoa tầm xuân vào buổi sớm 30 ml pha chút nước ấm uống hàng ngày.

Lá: Được thu hái quanh năm, có tác dụng sinh cơ và làm liền nhanh vết thương.

- Ung nhọt làm mủ chưa loét: Dùng lá tầm xuân sấy khô tán bột, trộn với mật ong và giấm đắp lên tổn thương.
- Viêm loét chi dưới: Dùng lá tầm xuân không kể liều lượng nấu nước rửa vết thương.
- Nhọt độc sưng nề nhiều: Dùng lá và cành non tầm xuân rửa sạch, giã nát với một chút muối ăn rồi đắp lên tổn thương.

Rễ: Vị đắng hơi sáp, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết và giải độc, được dùng để chữa nhiều chứng bệnh.

- Liệt mặt và di chứng liệt nửa người do tăng huyết áp: Dùng rễ tầm xuân 15-30 g sắc uống.
- Chảy máu cam mạn tính: Dùng vỏ rễ tầm xuân 60 g hầm với thịt vịt già ăn.
- Ghẻ về mùa hè: Dùng rễ tầm xuân tươi sắc uống thay trà.
- Đau răng và viêm loét miệng: Dùng rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm.
- Viêm khớp, liệt bại nửa người, kinh nguyệt không đều, khí hư và tiểu tiện không tự chủ: Dùng rễ tầm xuân 15-30 g sắc uống.
- Hoàng đản (vàng da do nhiều nguyên nhân): Dùng rễ tầm xuân 15-24 g hầm với 60 g thịt lợn nạc, chế thêm một chút rượu vang, chia ăn vài lần trong ngày.
- Vết thương chảy máu: Dùng rễ tầm xuân lượng vừa đủ, sấy khô tán bột rắc vào tổn thương, cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp.
- Rong huyết: Dùng rễ tầm xuân 30 g, ngải cứu già đốt tồn tính 10 g, cỏ nhọ nồi 30 g, tiên hạc thảo 30 g, sắc uống hằng ngày.

Quả: Vị chua, tính ấm, thu hái vào lúc chín, sấy hoặc phơi khô làm thuốc, có công dụng lợi tiểu thanh nhiệt, hoạt huyết giải độc.

- Phù do viêm thận: Dùng quả tầm xuân 3-6 g, hồng táo 3 quả sắc uống hoặc quả tầm xuân 20 g, đại hoàng 3 g, sắc chia uống 3 lần trong ngày.
- Tiểu tiện khó khăn: Dùng quả tầm xuân 10 g, mã đề 30 g và biển súc 30 g, sắc uống.
- Đau bụng khi hành kinh: Dùng quả tầm xuân 120 g sắc lấy nước, hòa thêm một chút đường và rượu vang uống ấm.
- Táo bón: Dùng quả tầm xuân 10 g, đại hoàng 3 g, sắc uống.

Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

HOA MÀO GÀ ĐỎ LÀM THUỐC

Mào gà đỏ có tên khác là kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu... Theo y học cổ truyền, hoa mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (đái buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh, đái dưỡng chấp...

Hoa mào gà đỏ
Tăng huyết áp: Kê quan hoa 3-4 cái, hồng táo 10 quả, sắc uống hằng ngày.

Thổ huyết: Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng tươi 15-24 g (loại khô dùng 6-15 g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30 g, trắc bá diệp 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà tươi 24 g, rễ cỏ tranh tươi 30 g, sắc uống.

Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc với rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Kê quan hoa và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi đói. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng sao 30 g, tông lư thán 30 g, khương hoạt 30 g, tán thành bột uống mỗi lần 6 g với nước cơm.

Tiểu buốt và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15-20 g với nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15 g sắc uống.

Di tinh: Hoa mào gà trắng 30 g, kim ti thảo 15 g, kim anh tử 15 g, sắc uống.

Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.

Trĩ lở loét: Hoa mào gà 3 g, ngũ bội tử 3 g, một chút băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên vùng lở loét.

Bế kinh: Hoa mào gà tươi 24 g hầm với 60 g thịt lợn nạc, chia vài lần ăn trong ngày.

Kinh nguyệt quá nhiều: Hoa mào gà lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6 g khi đói với một chút rượu. Hoặc dùng bài hoa mào gà sao cháy tán bột, uống mỗi lần 6-9 g với nước ấm.

Kinh nguyệt không đều: Hoa mào gà đỏ và trắng mỗi loại 9 g sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng 15 g, long nhãn hoa 12 g, ích mẫu thảo 9 g, thịt lợn nạc lượng vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm khí hư thì gia thêm vỏ trắng rễ tần bì 9 g.

Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9 g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, bạch truật 9 g, bạch linh 9 g, bông mã đề tươi 30 g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn 10 g, sắc nửa rượu nửa nước uống.

Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24 g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, phòng phong 6 g, tông lư thán 10 g, sắc uống. Hoặc: Kê quan hoa và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 g.Mày đay: Kê quan hoa dùng cả cây sắc uống và ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ, nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng.

Tác giả: Thạc Sĩ Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: http://vnexpress.net

LAN TAI CÁO - CÂY CẢNH VÀ CÂY THUỐC

Lan tai cáo còn có tên là dây lưỡi lợn, tên khoa học Hoya parasitica (Rox) Wall ex Traill, họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Đó là một cây leo nhỏ có thể sống trên mặt đất, thường sống trong hốc cây; gốc có nhiều rễ như mạng nhện. Dây non màu nâu hồng, có rễ khí sinh dài 5-20 mm. Dây và cuống lá có lông mịn thưa. Cuống lá dài 10-20 mm, trông như tai cáo hoặc lưỡi lợn (nên có tên là dây lưỡi lợn hoặc lan tai cáo).
Hoa Lan Tai Cáo
Hoa mọc từ nách lá hoặc cành không lá. Hoa tụ chùm xim nhiều ngả, có 15-22 hoa xòe ra như ô treo ngược. Tràng hoa dày, cánh liền, 5 cánh vòng ngoài màu trắng hồng, có lông mịn óng ánh như nhung. 5 cánh vòng trong có màu nâu hồng. Các hoa trong chùm nở đều một thời gian, rất đẹp, tỏa hương thơm vào ban đêm. Thời gian hoa khoe sắc là 7-10 ngày (mỗi chùm hoa).

Thường thấy lan tai cáo trong rừng cây to hoặc trên hốc cây cổ thụ ở thành phố Hà Nội. Vì hoa đẹp và thơm nên người ta nhân giống bán để làm cây cảnh.

Bộ phận dùng làm thuốc, theo kinh nghiệm của người Mường, người Thái là lá tươi, thường hái lá già và bánh tẻ.

Chưa có tài liệu nghiên cứu về lan tai cáo. Bằng cảm quan, có thể thấy nhựa từ cuống hoa có màu trắng trong, hơi nhớt, vị hơi đắng, sau ngọt. Sau khi ngắt hoa 1 phút, nhựa chảy đọng thành giọt). Phiến lá bánh tẻ nếm có vị hơi chua, lá già vị chua ít hơn. Sau khi nếm lá, mặc dù đã súc miệng và rửa môi kỹ nhiều lần, môi vẫn còn cảm giác nóng.

Người Thái, Mường dùng lá tươi giã nát, đắp lên các vết thương như gãy xương hoặc đứt ngón chân, ngón tay, không cần khâu nối, không cần thuốc sát trùng. Kinh nghiệm này đã được các bác sĩ của Sở Y tế Lai Châu (cũ) và trường Đại học Y Thái Nguyên chứng kiến cuối năm 1999: một lang y người Thái ở phường Mường Thanh - Điện Biên chữa cho một nạn nhân đứt rời ngón tay. Theo giáo sư Vũ Văn Chuyên, người dân Campuchiacũng dùng lá này đắp rịt các vết đứt trên cơ thể, giúp mau liền da và ít để sẹo.

Cách trồng lan tai cáo: Cắt đoạn dây già có lá xanh dài khoảng 30-40 cm, đặt vào giá đỡ (gáo dừa hoặc chậu có móc treo, có lỗ thoát nước). Cho hỗn hợp đất trộn với bã chè khô hoặc vỏ dừa khô, tưới cho ẩm rồi nén chặt. Hằng ngày tưới nước cho đủ ẩm, treo chỗ ít nắng. Khi cành phát triển dài thõng xuống, cần khoanh vào giá đỡ để tạo dáng đẹp cho cây

Theo Sức Khỏe & Đời Sống

CÂY MÃ ĐỀ LÀM THUỐC


Cây mã đề mọc ở khắp nơi trên đất nước ta, thường thấy ở các bãi đất hoang, khu vườn trống, nơi đất có độ ẩm ướt cao. 
Cây mã đề

Cây rất dễ mọc, phát triển mạnh thành từng cụm, bãi. Mã đề thuộc loài rau, lá hình bầu dục, mỗi lá có 5 cái gân nhóm lại, hình lá khum như cái muỗng. 

Trồng cây độ 3 tháng thì có hoa, hoa nở nụ đỏ tía, hoa nhỏ có từng chuỗi, trong có rất nhiều hột sắc màu vàng sậm, sao vàng có mùi thơm. Cả rễ, thân, lá cây mã đề đều được dùng làm thuốc.

Cây mã đề có tính hàn, vị ngọt không độc, có công dụng làm mát huyết, thanh nhiệt, cầm máu, sáng mắt, tiêu bướu, thông tiểu tiện, bổ âm, dưỡng tinh dịch.

Mã đề được dùng trong các bài thuốc Nam để chữa một số loại bệnh sau:

Chữa sốt xuất huyết: Mã đề tươi 50 g, củ sắn dây 30 g. Hai thứ trên rửa sạch đun trong 1 lít nước, sắc kỹ còn một nửa, chia làm 2 lần uống lúc đói trong ngày. 

Có thể cho thêm đường, uống liền trong 3 ngày.

Chữa viêm gan siêu vi trùng: Mã đề 20 g, nhân trần 40 g, chi tử 20g, lá mơ 20 g. Tất cả thái nhỏ sấy khô, hãm như chè để uống, ngày uống 100-150 ml.


Tác giả: Bác Sĩ Nguyễn Văn Tuấn
Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

CÁC BÀI THUỐC TỪ ỚT


Quả ớt vị cay, tính nóng, có tác dụng tiêu đờm, ôn trung, tán hàn, giải biểu, kiện vị, tiêu thực, gây sung huyết, kích thích chung, thông kinh lạc, giảm đau, sát trùng. Rễ ớt có tác dụng làm hoạt huyết, tán thũng. Lá ớt có vị đắng, tính mát có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, lợi tiểu.
Công dụng của ớt
Quả ớt trị tỳ vị hư lạnh, tiêu chảy, nôn mửa, dạ dày ruột đầy trướng, mất trương lực, tích trệ, ăn không tiêu, đau nhức nửa đầu, đau lưng, đau khớp, thống phong, đau dây thần kinh, viêm thanh quản, viêm họng. Người đau dạ dày, tạng nhiệt, máu nóng không dùng ớt.

Các bài thuốc cụ thể:

Chữa đau lưng, thấp khớp, đau dây thần kinh: Quả ớt giã nát, ngâm rượu với tỷ lệ 1/2 (một phần ớt tươi, 2 phần rượu) dùng xoa bóp. Có thể lấy hạt ớt phơi khô, tán bột viên làm cao dán (dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác)...

Chữa trúng phong, răng cắn chặt: Lá ớt tươi (loại ớt chỉ thiên) 30-50 g, giã nát, thêm nước và ít muối, đổ nước vào miệng còn bã đắp vào răng, người bệnh sẽ tỉnh lại.

Chữa sốt rét: Lá ớt tươi 30 g giã nát, hòa với nước đun sôi để nguội, chắt nước cốt uống trước khi lên cơn sốt 2 giờ. Ngày 1 lần, dùng trong 5-7 ngày liền.

Chữa phù thũng: Lá ớt tươi 30-40 g, sao vàng, sắc uống trong ngày.

Chữa rắn rết cắn, côn trùng đốt: Ớt tươi 15 quả, lá đu đủ 3 lá, rễ ớt chỉ thiên 80 g, tất cả giã nát, thêm nước, gạn nước uống, bã dùng đắp lên vết cắn. Nếu là rết và côn trùng đốt dùng lượng ít hơn. Có thể dùng riêng lá ớt tươi lượng vừa đủ giã nát, đắp vào vết cắn. Sau 15-30 phút nếu còn đau nhức làm thêm lần nữa.

Chữa eczema: Lá ớt tươi 30 g, me chua 20 g, hai thứ giã nát đắp, dùng 5-10 ngày là khỏi.

Chữa mụn nhọt, đinh độc, vết thương: Lá ớt, lá na, lá bồ công anh, lá tử vi, lá táo mỗi thứ 10-20 g, giã nát với một ít muối, đắp. Hoặc: Lá ớt, cành xương rồng bà có gai, lá mồng tơi mỗi thứ 5-10 g, giã nát nhuyễn, đắp.

Chữa đau bụng kinh niên: Rễ ớt, rễ chanh, rễ xuyên tiêu mỗi thứ 10 g sao vàng, sắc uống trong ngày, dùng nhiều ngày.

Tác giả: Bác sĩ Hương Tú
Nguồn: Sức Khỏe & Đời Sống

ĐÔNG Y SẼ ĐI VỀ ĐÂU?

"Từ vài nghìn năm trước đông y đã ngừng tiến bộ. Bởi thế hiện nay đông y vẫn mang hơi hướm ma thuật"
Đông y sẽ về đâu
Chính vì thiếu một cơ sở lý thuyết hoàn chỉnh và sự hiểu biết một thực tại được nhận thức bởi lý thuyết đó , nên đã làm cho những phương pháp ứng dụng rất hữu hiệu trong thực tế trải hàng ngàn năm của Đông y không thể phát triển được. Hơn thế nữa, những khái niệm trong Đông Y và cả trong các phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương hoàn toàn bí ẩn trước tri thức của khoa học hiện đaị.

Những khái niệm bí ẩn đó trong học thuật cổ Đông phương phản ánh một thực tại nào? Người xưa đã nhận thức thực tại nào để làm nên các phương pháp trong Đông y và trong các phương pháp ứng dụng học thuật cổ Đông phương , như : Tử Vi, Bốc Dịch,.......?

Bởi vậy, mặc dù sự ứng dụng hoàn toàn có hiệu quả thực tế- đó là nguyên nhất quan trọng để nó tồn tại hàng ngàn năm trong xã hội Đông phương - mà chưa có một thành quả khoa học hiện đại nào có được một phương pháp ứng dụng tồn tại lâu như vậy; nhưng vì thiếu hẳn một nguyên lý lý thuyết và sự hiểu biết một thực tại làm nên những giá trị học thuật cổ Đông Phương , nên người ta không thể giải thích chính xác được những khái niệm mơ hồ trong phương pháp luận của nó.

Hàng ngàn năm đã trôi qua. Học thuật cổ Đông phương đã tồn tại trong niểm tin con người vì chính hiệu quả của nó , nhưng nó lại không thể phát triển được vì thiếu một sự hiểu biết về một hệ thống lý thuyết hoàn chỉnh là nguyên nhân của các phương pháp ứng dụng và thực tại làm nên nó. Cũng hàng ngàn năm đó, con người với tri thức sơ khai đã dùng thần quyền để giải thích những phương pháp ứng dụng của học thuật cổ Đông phương.

Ngày nay , những người như ông Trương Công Diệu đã thể không phân biệt được giữa bản chất khoa học của phương pháp ứng dụng có hiệu quả thuộc học thuật cổ Đông phương và niềm tin của con người vào chính tính hiệu quả của nó với cách giải thích mang tính thần quyền, nên đã vội vã chụp cho nó cái nhãn "mê tín dị đoan". Trương Công Diệu viết:

Bởi thế hiện nay đông y vẫn mang hơi hướm ma thuật.

Đây chính là hậu quả của một sự lầm lẫn giữa cách giải thích và bản chất của phương pháp ứng dụng.

Để rõ hơn vấn đề này, tôi thí dụ như thuật thôi miên. Người ta có thể giải thích bằng quyền năng của thần thánh , hoặc người ta có thể giải thích nhân danh sóng não... Nhưng bản chất của thuật thôi miên là một thực tại đang hiện hữu và có hiệu quả. Nếu bạn nhầm lẫn giữa cách giải thích mang tính thầm quyền thì thuật thôi miên là ma thuật và "mê tín dị đoan". Nhưng nếu bạn giải thích theo phương pháp luận khoa học là do tương tác của sóng não (Chưa chắc đã đúng) thì đó là một hướng mà bạn phải chứng minh.Nhưng dù bạn giải thích cách nào thì thôi miên vẫn là một thực tế đang hiện hữu và đã ứng dụng trong khoa học trị liệu. Hiệu quả của nó chính là sự biện minh cho sự tồn tại của chính nó.

Thực tại luôn là đối tượng nghiên cứu của khoa học , bởi vì bạn không thể phủ nhận thực tại. Thực tại là chân lý.

Sai lầm của ông Trương Công Diệu chính là ông ta đã nhầm lẫn giữa cách giải thích hiện tượng và bản chất của hiện tưỡng đã tồn tại trên thực tế.
Nhưng, chính vì chỉ tồn tại một phương pháp ứng dụng với một phương pháp luận có những khái niệm mơ hồ, mà thiếu hẳn một nguyên lý lý thuyết và sự hiểu biết một thực tại là cơ sở nhận thức làm nên lý thuyết đó. Khiến cho học thuật cổ Đông phương đã bị nhận xét sai lạc và mang màu sắc huyền bí.

Bởi vậy, một hậu quả tất yếu là sự xuất hiện phong trào nhân danh học thuật đòi xoá sổ Đông Y ở ngay chính nước Trung Hoa - vốn được hiểu là cái nôi của nền y học Đông phương cổ .

Kính thưa qúi vị

Qua bài viết trên cho thấy chính phủ Trung Quốc đã cố gắng bảo vệ cho nền Đông y bằng phương pháp hành chính và quyền lực. Nhưng điều này lại không phải một phương pháp phản biện học thuật.

Hiện tượng này là một ví dụ thuyết phục chứng tỏ tính thất truyền và sai lạc trong những bản văn cổ chữ Hán liên quan đến học thuyết này . Người ta không thể tìm một cái đúng từ một cái sai .

Bởi vậy, chính người Trung Hoa đã không thể tìm ra được một cơ sở lý luận cho nền Đông Y và những thực tại của nó, không phải bây giờ mà đã hàng ngàn năm nay .

Tôi hy vọng rằng: Có thể có những học giả Trung Hoa phản biện được những lập luận của ông Trương Công Diệu. Nhưng cốt lõi của vấn đề là phải tìm một thực tại nào là cơ sở của các phương pháp ứng dụng trong Đông Y và phục hồi được nguyên lý lý thuyết là cơ sở của phương pháp luận trong ứng dụng của Đông y. Đây sẽ là bằng chứng thuyết phục nhất chứng tỏ tính khoa học của Đông y và các phương pháp ứng dụng khác trong học thuật cổ Đông phương.

Với một cá nhân, người ta có thể không cần sự phát triển của khoa học kỹ thuật và trí tuệ . Thậm chí với một cộng đồng cũng có thể không cần điều đó. Nhưng trong tương quan giữa các quốc gia thì sự hỗ trợ cho những phát kiến khoa học luôn là điều cần thiết cho sự tồn tại , dù nhìn dưới bất cứ một góc độ nào.

Khoa học cũng không thể chỉ thể hiện ở sự phát triển những phương tiện kỹ thuật. Khoa học đích thực còn chính là những lý thuyết khoa học. Phương tiên kỹ thuật sẽ chỉ là sự hỗ trợ cho nhưng khám phá trong tương lai. Nhưng trong tương lai , những phương tiện khoa học sẽ bất lục , Vì tự thân những phương tiện đó không tự nhận thức mà chỉ là công cụ hỗ trợ cho sự nhận thức của con người . Trong tương lai tri thức của nhân loại , sự phát triển chính là khoa học lý thuyết được thẩm định bằng tiêu chí khoa học.

Bởi vậy, quyết định bảo tồn Đông Y của chính phủ Trung Quốc là đúng , Bởi vì nó bảo vệ một thực tại ứng dụng có hiệu quả. Nhưng đó lại không phải là biện pháp rốt ráo; nếu những nguyên lý lý thuyết của nó không được phục hồi và phản ánh được một thực tại đàng sau nó.

Một trong những nguyên lý lý thuyết quan trong và căn bản nhất trong nền Đông Y chính là cuốn "Hoàng đế nội kinh tố vấn".

Thứ Tư, 4 tháng 9, 2013

CAFFEIN DẠNG XỊT ĐẦU TIÊN TRÊN THẾ GIỚI


Nhiều người phải nhờ cậy tới 1 - 2 tách cà phê để thức tỉnh vào buổi sáng hoặc khiến họ tỉnh táo trong ngày làm việc. Tuy nhiên, một nhà hóa học Mỹ hiện đã phát minh ra một giải pháp thay thế nhanh chóng dưới dạng ... xịt ngoài da. 

Caffein dạng xịt đầu tiên trên thế giới
Sản phẩm Sprayable Energy có thể sử dụng tương tự như nước hoa, nhưng được khuyến cáo không nên xịt quá 20 lần/ngày. Ảnh: Daily Mail

Chuyên gia hóa sinh Mỹ Ben Yu đã tạo ra sản phẩm có tên "Sprayable Energy" và tuyên bố đây là dạng năng lượng xịt cục bộ chứa caffein đầu tiên trên thế giới. Theo ông Yu, người dùng có thể xịt caffein lên da mà không phải trải nghiệm cảm giác hưng phấn mạnh, hấp thu lượng calo không cần thiết hay bị ảnh hưởng bởi dư vị khó chịu như khi sử dụng các loại nước uống tăng lực hoặc cà phê.
Website quảng cáo sản phẩm của ông Yu cho biết, sản phẩm "có thể sử dụng trong vài giây, không khiến bạn bị 'gục ngã', dễ sử dụng hơn những sản phẩm hiện có và không chứa các thành phần bí ẩn". Ông Yu và doanh nhân đối tác - Deven Soni đang quyên quỹ cho sản phẩm caffein dạng xịt của họ trên trang web Indiegogo và hiện đã nhận được số tiền tài trợ vượt quá mục tiêu 15.000 USD ban đầu của họ. 
Loại caffein dạng xịt đang chờ cấp bằng sáng chế này thực tế là một chất lỏng không mùi, được hấp thu qua da và phân phối khắp cơ thể sau nhiều tiếng đồng hồ để tạo "cú hích" của caffeine, dường như có tác dụng dài hơn so với việc nhấm nháp một tách cà phê.
Mỗi chai Sprayable Energy nhỏ, có vỏ bằng nhôm chứa lượng chất lỏng đủ dùng cho 160 lần xịt, tương đương lượng caffein có trong 40 tách cà phê. Các nhà sản xuất quả quyết, sử dụng sản phẩm này là cách tận dụng năng lượng từ caffein rẻ hơn nhiều so với việc "la cà" ở các quán cà phê.
Chuyên gia hóa sinh Yu đã tiết lộ trên tạp chí Inc. Magazine về quá trình ông nảy ra ý tưởng tạo ra một giải pháp thay thế cho cà phê. Ông từng nghiên cứu các miếng dán nicotin và yêu cầu cha của mình - một tiến sĩ hóa học - hỗ trợ tìm hiểu cách khiến caffein có thể được hấp thu dễ dàng.
Thành phần hoạt tính duy nhất trong sản phẩm Sprayable Energy là caffein. Cha con ông Yu phát hiện, chất này có thể xâm nhập tự nhiên vào cơ thể người thông qua da, bằng cách xuyên qua các màng tế bào do có cấu trúc rất giống nicotin.Hai nhà khoa học này cũng nhận thấy, do caffein không dễ hòa tan trong nước nên rất khó để truyền tải đủ chất kích thích trong một lần xịt để tạo hiệu ứng đủ lớn. Sau nhiều tháng nghiên cứu, họ khám phá ra rằng, có thể tăng tính tan của caffein thêm 5 lần nhờ sử dụng tyrosin - chất dẫn xuất đơn giản của một amino axit sản sinh trong tự nhiên. 
Đột phá đã "mở ra các triển vọng mới trong việc cung cấp năng lượng hiệu quả mà không có hạn chế và tác dụng phụ", ông Yu nhấn mạnh. Mỗi đợt phun sương từ một lần xịt Sprayable Energy chứa khoảng 1/4 lượng caffein có trong 1 tách cà phê, nhưng lại có tác dụng tương đương một tách cà phê đầy.
Các nhà sáng chế lý giải: "Lý do cho điều này là các sản phẩm của chúng tôi không cần phải tiêu hóa và không bị gan chuyển hóa gần như hoàn toàn trước khi xâm nhập vào hệ thống của bạn và sẵn dùng cho cơ thể".
Website quảng cáo cho Sprayable Energy khuyến nghị, mọi người sử dụng sản phẩm này như cách xịt nước hoa thông thường, tức là có thể xịt vào cổ hoặc cổ tay. 
(Theo Vietnamnet/Daily Mail)

ĐIỀU GÌ QUAN TRỌNG NHẤT TRONG CUỘC SỐNG CỦA BẠN


Điều gì quan trọng nhất trong cuộc sống của bạn?

Nếu phải chọn một trong những điều dưới đây, bạn sẽ chọn cái nào? Tiền bạc, tình yêu, gia đình, sự nghiệp hay chuyện ấy? 




Tình huống 
Một người đàn ông M cần gặp vợ chưa cưới F để kết hôn, nhưng hai người cách nhau bởi một dòng sông. M phải mượn một chiếc thuyền mới có thể qua sông gặp F, vậy là anh ta bắt đầu đi khắp nơi tìm thuyền.

Trên đường đi tìm thuyền, M gặp L, vừa hay cô gái này có thuyền nên M đã ngỏ ý mượn. Nhưng L lại yêu M ngay từ lần gặp đầu tiên. Cô nói: "Em yêu anh, anh yêu em không?". M thành thực trả lời: “Xin lỗi, anh có vợ chưa cưới rồi, anh không thể yêu em”. Nghe vậy, L nhất định không cho M mượn thuyền. Lý do của cô là: “Em yêu anh, anh không yêu em, vậy là không công bằng, em không thể cho anh mượn thuyền được”.

M rất buồn, tiếp tục tìm thuyền, và gặp người con gái tên S cũng đang sở hữu một chiếc thuyền. S nói: "Em cho anh mượn thuyền cũng được, với một điều kiện, em rất thích anh, anh thích em hay không không quan trọng, nhưng em muốn anh ngủ với em một tối, nếu không em sẽ không cho anh mượn". M rất khó xử. Nếu S không cho M mượn thuyền, anh sẽ không thể qua sông gặp F, bởi ở vùng này chỉ có hai con thuyền. Vì vợ chưa cưới đợi bên kia sông, F buộc lòng phải chấp nhận yêu cầu của S... S tôn trọng lời hứa, và cho M mượn thuyền vào sáng hôm sau.

Gặp được F rồi, trong lòng M luôn ngổn ngang tâm trạng. Sau một hồi suy nghĩ rất lâu, anh quyết định nói hết mọi chuyện về L và S cho F nghe. Thật đáng tiếc, nghe xong câu chuyện, F thấy rất đau lòng nên đã nói chia tay với M. F thấy M không trung thành, nên không thể tha thứ được. F thất vọng, đau khổ...

Lúc này trong cuộc sống của anh lại xuất hiện cô gái E, hai người bắt đầu yêu nhau. Nhưng câu chuyện trước đó khiến M không thể nguôi ngoai. E hỏi M có điều gì muốn nói với cô ấy không, vậy là M một lần nữa, kể toàn bộ câu chuyện về L, S, F cho E nghe. E nghe xong nói: "Em không nghĩ gì đâu, điều đấy không liên quan gì đến em cả".

Sắp xếp M, L, S, F, E theo thứ tự ưu tiên, để xem bạn chú trọng điều gì nhất trong cuộc sống.

Đáp án:

M - Tiền (Money)

Lựa chọn M cho thấy bạn sẵn sàng vì tiền mà vứt bỏ tất cả. Bạn cho rằng tiền là quyền lực, là minh chứng cho sự giàu có, không có tình yêu không có sự nghiệp bạn đều chấp nhận được, nhưng không thể chịu được nếu không có tiền. Hay nói cách khác, tiền chính là động lực để bạn sống tiếp.

L - Tình yêu (Love)

Bạn xem tình yêu quan trọng hơn mọi thứ khác trên đời, thậm chí sẵn sàng chết vì nó. Cách nhìn của bạn về tình yêu có chút hoang tưởng, nhưng bạn nguyện từ bỏ tất cả để có được thứ tình yêu hoang tưởng đó, dù chỉ trong thời khắc ngắn ngủi.

S - Chuyện ấy (Sex)

Bạn rất chú trọng đến cảm giác, khao khát có được sự quan tâm chú ý của hầu hết mọi người, mong muốn mọi người ngưỡng mộ bạn, cũng như cách suy nghĩ mới mẻ, phóng thoáng của bạn

Bên cạnh đó, bạn cũng là người có dục vọng cao về sex. Sex đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống tinh thần của bạn.

F - Gia đình (Family)

Bạn là người sống nguyên tắc, có tinh thần trách nhiệm cao. Toàn bộ trọng tâm cuộc sống của bạn đều hướng về gia đình. Với bạn, gia đình là tất cả, và bạn hy vọng một nửa của mình cũng có suy nghĩ như vậy.

Nếu bạn độc thân, chứng tỏ bạn đang mong muốn có được gia đình nhỏ xinh của riêng mình. Nếu bạn đã có gia đình, cho thấy hiện giờ bạn khá lòng với nó.

E - Sự nghiệp (Enterprise)

Bạn bỏ không biết bao nhiêu thời gian và công sức vào việc học hành, xây dựng tiền đồ cho bản thân, điển hình của tuýp người học hành điên cuồng, vì lý tưởng sự nghiệp cao ngất.