Thứ Sáu, 30 tháng 8, 2013

THUỐC NAM GIẢI ĐỘC KHI BỊ NGỘ ĐỘC THỨC ĂN

Ngày nay, tình trạng ngộ độc thức ăn diễn ra khá phổ biến. Ngộ độc thức ăn dù nhẹ hay nặng cũng đều cần có những sơ cứu ban đầu để đưa thức ăn bị ngộ độc ra khỏi dạ dày trước khi đưa đến bệnh viện nhằm giảm bớt mức độ nguy hiểm cho người bị ngộ độc... Hãy trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về sơ cứu ngộ đôc thức ăn để có thể áp dụng khi cần.

Ngộ độc sắn cần sơ cứu nhanh
Ngày nay, tình trạng ngộ độc thức ăn diễn ra khá phổ biến. Ngộ độc thức ăn dù nhẹ hay nặng cũng đều cần có những sơ cứu ban đầu để đưa thức ăn bị ngộ độc ra khỏi dạ dày trước khi đưa đến bệnh viện nhằm giảm bớt mức độ nguy hiểm cho người bị ngộ độc... Hãy trang bị cho mình những kiến thức cơ bản về sơ cứu ngộ đôc thức ăn để có thể áp dụng khi cần.

Ngộ độc nấm

Trong thiên nhiên có nhiều loại nấm độc gây chết người. Nấm độc thường có một số đặc tính riêng: mũ nấm thường có màu sắc sặc sỡ, thân giòn, dễ gẫy. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó phân biệt, vì vậy tuyệt đối không nên ăn các loại nấm lạ. Khi bị ngộ độc nấm, cần nhanh chóng gây nôn bằng cách móc họng, cho uống nước muối, mùn thớt… làm cho nấm độc ra khỏi dạ dày rồi đưa ngay đến bệnh viện. Trong lúc chờ đưa tới bệnh viện, tạm thời có thể sử dụng một số bài thuốc Nam sau:

- Ngọn Khoai lang non khoảng 50 ngọn, rửa sạch, giã nát, vắt lấy nước cho uống.

- Cành lá Kinh ngân non rửa sạch bằng nước sôi để nguội, nhai và nuốt dần.

- Đậu xanh 40g, Cam thảo 10g, sắc nước uống liên tục từng bát lớn.

- Rau Muống tươi khoảng một kg, giã nát vắt lấy nước, uống một lượng lớn sẽ có tác dụng giải độc nhất định.

- Đối với trường hợp thần kinh rối loạn, cuồng táo tác dụng tương đối tốt; đối với trường hợp đã bị hôn mê thì tác dụng kém hơn. Nếu sắc Cam thảo (120g), Kim ngân hoa (30g) chắt lấy nước, hòa với nước cốt rau Muống mà uống thì tác dụng mạnh hơn. Bài thuốc này còn có thể dùng giải độc khi ăn phải lá ngón, trúng độc thuỷ ngân.

CÁCH BẢO QUẢN NHÂN SÂM-ĐƠN GIẢN,TIỆN LỢI

Nhân sâm là loại thuốc quý. Nhân sâm Trung Quốc có tên là Sâm Cát Lâm (trồng ở tỉnh Cát Lâm), Nhân sâm Triều Tiên gọi là Sâm Cao Ly (Cao Ly là tên gọi nước Triều Tiên ngày xưa).

Giá một lạng (100g) Nhân sâm loại rẻ nhất là Sâm Cát Lâm cũng từ 16.000 - 20.000 đồng. Còn loại đắt như Sâm Triều Tiên 10 năm tuổi là 1.500.000đồng.

Nhân sâm - loại thuốc quý

Nhiều người không biết cách bảo quản, chỉ gói kỹ rồi cất vào tủ. Khi đem ra dùng thì Sâm đã mốc hoặc mọt đã ăn rỗng hết củ Sâm rồi. Có người biết bảo quản bằng cách dùng chất hút ẩm như Silicagen hoặc gạo rang vàng, đổ vào lọ sâm để hút ẩm. Cách này có nhược điểm là: phải thường xuyên thay chất bảo quản mới. Nếu để chất hút ẩm bị no nước mà không kịp thời thay đổi thì nó lại là môi trường thuận lợi cho mối, mọt phát triển.

Chúng tôi giới thiệu cách bảo quản Nhân sâm đơn giản - tiện - lợi như sau:

- Cắt nhỏ củ Sâm thành từng miếng 1-2g. Tối đa là 3g (vì liều dùng Nhân sâm mỗi ngày là 3-4g).

- Cho các miếng Sâm vào lọ rộng miệng (thuỷ tinh hay nhựa) khô, sạch, có nút kín (không dùng nắp lọ bằng sắt, vì Mật ong sẽ làm hỏng nắp và vị tanh của sắt hoà vào Mật ong).

- Cho Mật ong loại tốt (có thể mua mật ong bán ở các Nhà thuốc) vào lọ làm ngập các miếng Sâm rồi đậy kín nắp lọ, tránh kiến chui vào. Khi sử dụng chỉ cần gắp miếng Sâm ra (xem ảnh) theo liều dùng rồi đậy nắp kín lại.

Với cách làm như trên, không bao giờ Nhân sâm bị mốc, mọt, lại tiện dùng. Mật ong vừa là chất bảo quản vừa là thuốc bổ nên ta không mất đi đâu.

Cần lưu ý: Nhân sâm đóng gói trong hộp sắt cũng có khi mốc do lỗi khi dập mép hộp sắt của nhà sản xuất.

Vì vậy khi mua Nhân sâm đóng hộp sắt hay hộp gỗ, bạn nên yêu cầu người bán mở hộp lấy củ Sâm ra xem, nếu tốt hãy trả tiền. Khi về nhà nên bảo quản ngay trong Mật ong theo cách nói trên.

CÁCH GIẢI RƯỢU NGÀY XUÂN

Trong không khí tưng bừng đón chào năm mới, người người chúc nhau vạn sự như ý, kèm theo lời chúc không thể thiếu chén rượu nồng, đó là nét văn hoá đẹp của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, thói quen này dễ dẫn đến quá chén gây ngộ độc. Đông y có bài thuốc giải rượu rất hiệu quả, xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo áp dụng.
Canh đậu xanh

Bài 1: thổ phục linh 20g, cát căn 20g, đậu xanh 25g. Tất cả cho vào ấm, đổ 2 lít nước nấu sôi trong 15 phút, để nguội hẳn rồi mới uống. Mỗi lần uống 1 bát, uống 2 - 3 lần liền.

Bài 2: biển đậu 20g, kim ngân hoa 16g, cà gai leo 20g, rau má 20g. Cho các vị vào ấm, đổ 2 lít nước, sắc uống. Uống lúc nguội, 2 - 3 lần liền.

Bài 3: lá đỗ ván, lá sắn dây, rau má, lá đinh lăng mỗi thứ 30g. Đổ nước 2 lít sắc uống, uống lúc nguội 2 - 3 lần liền.

Canh đậu xanh là món canh có tác dụng giải rượu rất tốt.

Bài 4: cát căn 20g, biển đậu 20g, thổ phục linh 20g, cúc hoa 12g, đinh lăng 16g, đan bì 12g, chi tử 12g, hoài sơn 16g, chỉ xác 10g, cam thảo 12g, ngũ gia bì 16g, rau má 20g, mã đề thảo 16g, rau dấp cá 16g. Sắc uống trong ngày.

Bài 5: lá dong 60 - 80g. Lá dong rửa sạch cắt ngắn, nấu nước cho bệnh nhân uống. Tác dụng giải rượu rất hiệu quả.

Bài 6: canh đậu xanh, tía tô: đậu xanh xay để cả vỏ 50g, lá tía tô 20g. Hai thứ nấu thành canh, ăn vài lần sau khi đã dùng rượu, kiêng ra gió. Nếu trời lạnh cần ủ ấm cho bệnh nhân.

MEỌ HAY THÔNG LỖ MŨI

Không khí lạnh thất thường khiến hệ miễn dịch của cơ thể cũng bị ảnh hưởng nhiều và hậu quả là chứng ngạt mũi sẽ có cơ hội tìm đến. Sau đây là một số mẹo đơn giản để giữ cho mũi luôn được thông thoáng trong thời tiết này.

Củ hành

Tư thế ngủ

Tư thế này sẽ làm giảm sự hình thành dịch chất nhầy ở trong mũi gây khó chịu. Bất kỳ vị trí nằm nào khác cũng có thể tạo áp lực lên xoang gây ra chất nhầy này. Cách tốt nhất là ngủ mặt đối mặt với trần nhà và đầu luôn giữ vị trí kê cao hơn bình thường.

Củ hành

Củ hành là cách tốt để giữ mũi luôn được thông thoáng. Thật đơn giản, bạn có thể thái củ hành thành miếng rồi ngửi trong 5 phút. Hành sẽ đóng vai trò như chất xúc tác để tiết ra dung dịch làm sạch mũi.

Ăn thức ăn cay

Khi ăn thức ăn cay như hạt tiêu sẽ làm cho mũi nhạy cảm hơn và hoạt động tốt hơn giúp cho lỗ mũi sẽ được sạch sẽ và thông thoáng.

Uống nhiều đồ uống nóng

Trả và cà phê lại có tác dụng tốt trong chứng bệnh khó chịu này. Hơi nước từ những thức uống nóng này sẽ giúp làm loãng chất nước nhầy có trong mũi. Ngoài ra, trà cũng có thể giúp long đờm.

Xông hơi

Nhỏ một ít giọt bạc hà vào nước nóng, sau đó phủ lên đầu với một chiếc khăn và bắt đầu ngửi dung dịch hơi nước này. Dùng khăn để phủ lên đầu sẽ giúp cho hơi nước được giữ lại nhiều hơn, không bị thoát hơi ra ngoài. Như vậy, sẽ có tác dụng tốt hơn.

Thứ Ba, 27 tháng 8, 2013

HẠT ĐẬU XANH

Ðậu xanh tính mát, vị ngọt, không độc, có tác dụng: thanh nhiệt giải độc, giải cảm nắng, lợi thủy. Xin giới thiệu một số bài thuốc chữa bệnh từ hạt đậu xanh.

Đậu xanh có tác dụng thanh nhiệt giải độc
Ðậu xanh còn gọi là lục đậu, thanh tiểu đậu. Là hạt của cây đậu xanh, thực vật thuộc họ đậu. Tính mát, vị ngọt, không độc.

Thành phần chính có: anbumin 22,1%, chất béo 0,8%, cacbua hydro 59%, calci, phốt-pho, sắt, caroten, vitamin B1, B2. 100g có thể cho 332 kcal nhiệt lượng. Anbumin chủ yếu là anbumin khối, một số ít a-xít a-min an-by-mu-nô-ít, try-tô-phan, ty-rô-sin, a-xít ni-cô-ti-níc và a-xít béo có phốt-pho. Vỏ hạt đậu cứng có thể dùng làm dược liệu.

Tác dụng: thanh nhiệt giải độc, giải cảm nắng, lợi thủy. Chủ yếu dùng chữa cảm nắng, phù thũng, tả lị, nên mụn độc, bạc nước, giải độc do thuốc. Cách dùng: ăn, đun thành canh. Nghiền bột hoặc xay hạt sống lọc lấy nước. Chữa bên ngoài: nghiền nhỏ mà đắp. Kiêng kị: Tì vị hư do hàn, hay đi ngoài thì không nên dùng.

Chữa trị:

Chữa cảm nắng: đậu xanh lọc sạch cho vào nồi đổ thêm nước. Ðun cho sôi. Chắt nước có mầu trong xanh để nguội uống. Nước có mầu đục thì thuốc không tốt.

Giải khát, đi tiểu bình thường: đậu xanh 60g lọc sạch cho vào 1.000ml nước đun nhừ, chắt nước uống sáng và tối trước lúc ăn cơm mỗi lần 200ml.

Ði lỵ đỏ mạn tính: đun đậu xanh nhừ, ăn tùy thích.

Viêm tuyến mật: đậu xanh tươi 60g, bỏ vào nồi đun cho nhừ, cho lõi bắp cải 2-3 cái, đun thêm 20 phút. Chắt nước ra uống. Ngày một, hai lần. Nếu phát hiện bệnh sớm, uống ngay thời kỳ đầu thì hiệu quả càng tốt hơn.

Nhiễm độc chì: mỗi ngày dùng 120g đậu xanh, 15g cam thảo, đun thành canh, chia làm hai lần uống với 300mg vitamin C. 15 ngày là một liều chữa trị. Nói chung liên tục điều trị hai liều là cơ bản có thể chữa được bệnh.

Nóng sốt với viêm ruột: vỏ hạt đậu xanh 15g đun với nước cho thêm 15g đường trắng mà uống cho đến khi hết bệnh.

Bị phong cảm: đậu xanh 30g, ma hoàng 9g. Ðun với nước uống; Ðậu xanh 30g (giã nát), lá chè 9g (bỏ vào trong túi vải). Một bát to nước lã đổ vào nấu. Khi còn nửa bát, lấy túi chè ra, cho đường đỏ vào mà uống.

Ðề phòng nóng sốt: đậu xanh, rễ cỏ gianh tươi 30g, song hoa 15g, cho hai bát nước vào đun đến khi còn một phần hai bát thì uống. Ngày ba lần, uống liên tục trong ba ngày.

Ðau bụng nôn ọe: đậu xanh 100g hạt, hồ tiêu 10 hạt, cùng nghiền bột nhỏ, rót nước sôi vào ngâm mà uống; hoặc đậu xanh, đường phèn, mỗi loại 16g đun với nước mà uống.

Viêm niệu đạo: giá đậu xanh 500g, ép lấy nước cho đường trắng vào uống.

Nhiễm độc : đậu xanh, đậu tương mỗi thứ 125g, cũng xay bột uống với nước cơm.

Trúng độc thuốc nông dược lân hữu cơ: đậu xanh bốn phần, cam thảo một phần. Ðun sôi cho vào rửa ruột.

Bị bỏng: vỏ đậu xanh 30g, sa hoàng, thêm một ít băng phiến. Nghiền nát thành bột, đắp vào chỗ bỏng. Ít sữa: Ðậu xanh, đường đỏ vừa đủ. Ðun thành canh uống thay chè.

Bệnh đái đường: đậu xanh 200g, lê hai quả, củ cải xanh đun chung cho chín mà ăn.

Giải cảm nhiệt, phòng cảm nắng, tiêu phù thũng, chữa cao huyết áp, bớt mỡ trong máu, viêm túi mật: Ðậu xanh 100g, mơ chua, đường trắng mỗi thứ 50g. Ðun đậu xanh và mơ chua cho nhừ, cho đường vào khuấy đều. Ðể nguội rồi ăn; Ðậu xanh gạo cũ mỗi thứ lượng vừa đủ, cùng đun thành cháo, cho thêm ít đường phèn mà ăn. Viêm gan mạn tính: Ðậu xanh 100g, táo tầu 10 quả... Cho nước vừa đủ đun thành cháo. Mỗi ngày ăn một lần.

Bạch đới quá nhiều: đậu xanh 500g, mộc nhĩ đen 100g, cùng rang vàng, nghiền thành bột nhỏ. Mỗi ngày hai lần. Mỗi lần 15g, ăn cùng với cơm hoặc nước cháo.

Huyết áp cao: đậu xanh, rau sen, đường phèn mỗi thứ 100g. Ðun nước uống. Mỗi ngày hai lần.

Ho lao: đậu xanh 200g, rong biển 50g, đường trắng vừa đủ. Cho nước vừa đủ đun đậu chín nở. Rong biển ngâm cho mềm rửa sạch cắt thành sợi nhỏ, cho lên trên đậu, rồi rải một lớp đường trắng lên trên, làm lại ba lớp như thế. Cho vào nồi chưng lửa nhỏ trong 30 phút. Mỗi ngày ăn từ hai đến ba lần.

Viêm vòm họng, vòm họng bị lở loét: đậu xanh 20g, trứng gà tươi một quả. Ðập trứng vào trong bát đánh kỹ. Ðun đậu xanh cho chín tới (không đun quá kỹ). Lấy nước đun đậu đánh trứng vào mà húp. Mỗi ngày hai lần vào sáng và tối.

NHỘNG TẰM

Nhộng tằm là món ăn dân dã rất phổ biến trong bữa ăn hàng ngày của nhân dân ta, có sẵn ở các chợ vùng quê, nhất là ở các địa phương nuôi tằm. Ðây là một thức ăn giàu chất dinh dưỡng, rẻ tiền, chế biến đơn giản, chỉ cần rang với ít mỡ, cho mắm muối vừa đủ, múc ra đĩa, rắc thêm mấy sợi lá chanh thái nhỏ, chúng ta sẽ có một món ăn bùi, béo, đậm đà, ngon miệng.

Nhộng tằm giàu chất dinh dưỡng

Phân tích thành phần hóa học, trong 100g nhộng tằm có 79,7g nước, 13g protid, 6,5g lipid, cung cấp được 114 calo. Ðồng thời nhộng tằm cũng là một thức ăn có nhiều vitamin (vitamin A, B1, B2, PP, C...) và chất khoáng, nhất là canxi (40mg%) và photpho (109mg%) cần thiết cho cơ thể. Như vậy so với các loại thịt, cá thường dùng, giá trị dinh dưỡng của nhộng tằm cũng không thua kém (trong 100g thịt bò loại trung bình có 21g protid, 3,8g lipid, cung cấp được 121 calo; 100g thịt lợn nạc có 19g protid, 7g lipid, cung cấp 143 calo; 100g gan lợn có 18,8g protid, 3,6g lipid, 2g glucid, cung cấp 119 calo; 100g cá chép có 16g protid, 3,6g lipid, cung cấp 99 calo).

Ngoài ra, con tằm còn là một vị thuốc nam tốt, thường được dùng nhất là tằm chín. Cách bào chế cụ thể như sau: Chọn những con tằm chín đã nhả ít sợi tơ, lúc này tằm có màu vàng óng. Loại bỏ những con bị ruồi đốt có vết đen trên mình. Cho tằm vào nồi nước đang sôi, khuấy nhanh tay cho đến khi tằm chuyển sang màu trắng ngà, vớt ra cho vào rổ thưa để ráo nước. Sấy khô nhẹ lửa (khoảng 40-50 độ) cho đến lúc tằm khô có màu vàng nâu bóng, mùi thơm là được, cho vào lọ nút kín. Khi dùng lấy tằm khô tẩm nước gừng (một phần gừng giã nát, hai phần nước) cho tằm mềm ra, sao vàng, đảo luôn không để cháy, bao giờ thấy tằm khô bẻ gãy là được. Ðem tằm khô tán và rây thành bột mịn.

Theo Ðông y, tằm chín có vị mặn, bùi béo, thơm, tính ấm, có chất bổ như sâm nhung, được dùng làm thuốc bồi dưỡng thần kinh, ăn ngủ kém, di mộng tinh, hư lao, trẻ em chậm lớn, phụ nữ sau khi đẻ ít sữa nuôi con, cơ thể suy nhược. Liều dùng mỗi ngày từ 6g đến 12g.

Tằm chín thường được bào chế thành thuốc bổ con tằm, công thức như sau: Tằm chín 400g, lá dâu tằm (loại bánh tẻ) 1.000g, đậu nành đã nảy mầm 200g, vừng đen 280g, mật ong vừa đủ.

Cách làm và dùng:

Tằm chín chế biến như trên. Lá dâu phơi trong râm, không phơi nắng, tán bột, bỏ xương lá, chỉ dùng thịt lá.

Ðậu nành ngâm nước ủ cho lên mầm dài độ 1 đốt ngón tay, đem phơi khô, sao thơm, tán nhỏ.

Các vị cân đủ liều lượng, trộn đều, cho vào thuyền tán thật mịn, rây kỹ, lấy mật ong cô đặc trộn với bột thuốc làm viên bằng hạt ngô.

Liều dùng:

Người lớn mỗi lần uống 8-12 viên với nước chè nóng, ngày uống hai lần sáng và tối. Cứ uống mười ngày lại nghỉ ba ngày, uống liền trong 1 tháng.

Bài thuốc này chủ trị các chứng suy nhược, ít ăn, kém ngủ, mệt nhọc, xanh xao thiếu máu có tác dụng tốt.

CỦ CÀ RỐT

Củ cà rốt là phần rễ của cây cà rốt, được trồng ở khắp mọi nơi trên thế giới và luôn sẵn có quanh năm. Cà rốt có thể chế biến bằng nhiều cách, như ăn sống (xay sinh tố, trộn với salad - giấm), nấu chín (nấu xúp với khoai tây, làm mứt, nấu thành si-rô.); là thực phẩm thường dùng trong những món chay hoặc để thay thế cho các loại thực phẩm khó tiêu (thịt, chất béo.). Khi rang khô và nghiền thành bột, nó có thể được dùng để thay thế cà phê. Người ta còn dùng si-rô cà rốt làm chất tạo ngọt. Dầu cà rốt dùng để tạo mùi thơm và chế tạo nước hoa...

Cà rốt có nhiều tác dụng
Cà rốt chứa nhiều carotene (tiền vitamin A) vì vậy chất này đã được đặt tên từ chữ cà rốt (Carrot). Lượng carotene ăn vào sẽ được cơ thể chuyển hóa dễ dàng thành vitamin A ở ruột và gan. Ngoài ra, cà rốt cũng là loại thực phẩm giàu dinh dưỡng và có nhiều chất bổ khác như các vitamin A, B, C, D, E, acid folic, kali và sợi Pectin (giúp hạ cholesterol máu). Những nguyên tố như calci, đồng, sắt, magnê, măng-gan, phospho, lưu huỳnh có trong cà rốt ở dạng dễ hấp thu vào cơ thể hơn bất kỳ dạng thuốc bổ nào. Trong cà rốt còn có nhiều chất chống oxy hóa quan trọng như: beta carotene, alpha carotene, Phenolic acid, Glutathione... đã được chứng minh là có khả năng làm giảm nguy cơ mắc phải nhiều bệnh như tim mạch, ung thư...

Không giống hầu hết các loại rau quả khác, cà rốt đã nấu chín hay xay ép thành nước đem lại nhiều chất dinh dưỡng hơn so với ăn sống. Nguyên nhân là cà rốt sống có vách tế bào cứng, làm cơ thể chỉ chuyển hóa được < 25% lượng beta carotene thành vitamin A. Tuy nhiên, khi cà rốt đã được nấu chín hay xay ép thì các vách tế bào cellulose dày cứng sẽ bị phá vỡ và phóng thích ra chất dinh dưỡng, giúp cơ thể hấp thu hơn 50% carotene. Dĩ nhiên, nếu nấu quá lâu thì cũng làm giảm thành phần dinh dưỡng và mùi vị của cà rốt.

Theo kết quả nghiên cứu của Ðại học Arkansas (Mỹ) đăng trên Tạp chí Hóa học Nông nghiệp và Thực phẩm (8/2000) cho thấy: Cà rốt nấu chín (với một ít dầu mỡ) hay xay ép ra nước sẽ làm tăng nồng độ các chất chống oxy hóa (beta carotene, Phenolic acid) và giúp cơ thể dễ hấp thu hơn 34,3% so với ăn cà rốt sống.

Cà rốt nên dùng loại tươi nhất và đã qua đun nấu (tốt nhất là luộc sơ qua). Ngoài ra cần phải nhai nhuyễn cà rốt khi ăn. Ðể việc hấp thu vitamin A từ thực phẩm được tốt hơn thì nên chế biến cùng với một ít dầu, mỡ.
Nếu ăn hay uống cà rốt quá nhiều hoặc quá lâu có thể gây vàng da ở lòng bàn tay hay bàn chân. Nguyên nhân do tích tụ carotene từ cà rốt vào máu quá nhiều và làm thấm ra ngoài da.
 Tình trạng này không gây nguy hiểm gì và dễ kiểm soát (khác với ngộ độc vitamin A gây nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, ói, lồi mắt, khô tróc da...). Chỉ cần ngưng hay giảm ăn cà rốt một thời gian thì sẽ hết vàng da (mỗi ngày ăn 1 củ cà rốt nhỏ bằng nắm tay em bé là đủ nhu cầu vitamin A từ beta carotene). Nhu cầu vitamin A hàng ngày là: 1.500-3.000 IU/ trẻ em, 3.000-5.000 IU/người lớn (1-2,5mg), 5.000-6.000 IU/phụ nữ mang thai, 6.000-8.000IU/phụ nữ cho con bú và carotene là 2-5mg/ngày/người lớn.

Ðể tránh ngộ độc Phospho từ thuốc diệt côn trùng còn sót lại trên cà rốt, trước khi ăn ta nên rửa sạch, gọt vỏ và cắt bỏ 2 đầu.

Loại cà rốt hoang dại Queen Annes Lace có thể gây độc khi ăn. Lá của nó chứa Furocoumarins có thể gây viêm da khi tiếp xúc phải, đặc biệt khi ướt. Hạt có thể gây sẩy thai.

Cà rốt đã qua đun nấu có chỉ số đường máu (Glycaemic index) là 49, nghĩa là sau khi ăn sẽ làm nồng độ đường trong máu không tăng quá cao (< 50 là tốt). Nguyên nhân do đường trong cà rốt có cấu tạo phức tạp nên được tiêu hóa chậm hơn, bảo đảm cảm giác no kéo dài hơn. Tuy nhiên bệnh nhân tiểu đường không nên ăn hay chỉ dùng ít nước ép cà rốt.

Thành phần dinh dưỡng 

Trong 230g nước ép cà rốt chứa: 70,8 calories; 0,1g chất béo toàn phần; 0g chất béo bão hòa; 0mg cholesterol; 213,3mg natri; 0,6g chất xơ; 1,3g protein; Tối thiểu 27.000IU vitamin A; 20,550IU beta carotene; 6.388 IU alpha carotene; 32,2mg calci; 0,6mg sắt.

RAU MÁ

Rau má được dùng trong thực phẩm như một loại rau gia vị (ăn sống), rau ăn (luộc, nấu canh) hoặc nước giải khát (cả cây giã nhuyễn với nước và đường). Ðặc biệt ở miền Nam, nhân dân rất ưa chuộng rau má, nhiều người ăn quen đâm nhớ.

Rau má được dùng như 1 loại rau gia vị
Khi bị sốt nóng, nhức đầu, rôm sảy, mụn nhọt, kiết lỵ ra máu, lấy rau má (30g) để tươi, rửa sạch, giã nát, thêm nước sôi để nguội, vắt lấy nước, rồi hòa 10g bột sắn dây, thêm đường, uống.

Rau má 30g phối hợp với rau sam 30g, rễ sắn dây 20g, thái nhỏ, phơi khô, sắc với 200ml nước còn 50ml uống làm một lần trong ngày chữa cảm sốt, khát nước, đi đái nước tiểu đỏ, mẩn ngứa, táo bón. Trong trường hợp bị đái rắt, đái buốt, đái ra máu, có thể dùng rau má 40g, nõn tre 40g để tươi, giã nát với vài hạt muối, gạn lấy nước uống.

Ðể chữa ngộ độc lá ngón, nấm độc, say sắn, đồng bào Thái (Tây Bắc) thường dùng rau má 50-100g giã nát, hòa với nước chè đặc, thêm đường thật ngọt, uống làm một lần.

Toa căn bản (phương thuốc phổ biến vào năm 1950 ở miền Ðông Nam Bộ) có rau má 8g, rễ cỏ tranh 8g, cỏ mần trầu 8g, cỏ nhọ nồi 8g, cam thảo nam 8g, ké đầu ngựa 8g, lá muồng trâu 4g, củ sả 4g, vỏ quýt 4g, gừng tươi 2g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô, sắc uống làm hai lần trong ngày. Thuốc điều hòa cơ thể với 6 tác dụng chính là nhuận gan, nhuận tiểu, nhuận tràng, nhuận huyết, giải độc và kích thích tiêu hóa.

CÂY HOA HÒE

Hoa hoè còn gọi là hoè mễ, hoa hoè là loại cây cao chừng 5-6 cm, lá kép, hoa mọc thành bông cánh bướm màu vàng trắng. Quả là một dạng dài hoặc hơi cong, giữa quả hơi thắt lại. Mùa hoa: vào các tháng 7,8,9.

Hoa hòe có tác dụng thanh nhiệt,chỉ huyết...

Thành phần hoá học chính trong hoa hoè là chất Rutin, đó là một loại vitamin P có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Thiếu chất vitamin này tính chịu đựng của mao mạch yếu dễ bị đứt vỡ. Hiện tượng này trước kia người ta chỉ cho rằng do thiếu vitamin C mà có, gần đây mới phát hiện có sự liên quan với vitamin P.

Công dụng: hoa hoè có vị đắng, tính bình có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, chỉ huyết. Dùng chữa chảy máu cam, lỵ trĩ ra máu và các chứng chảy máu khác. Chữa đau mắt đỏ, đề phòng đứt mạch máu não khi có huyết áp cao, chữa xuất huyết cấp tính do viêm thận, chữa xuất huyết phổi không rõ nguyên nhân, điều hoà huyết áp.

Cách dùng: chữa các bệnh chảy máu, thông thường nhân dân lấy 20g hoa hoè đã sấy khô, cho vào ấm sắc, uống thay nước. Chữa nhức đầu và đề phòng đứt mạch máu não trong bệnh cao huyết áp.

Bài thuốc:

Hoa hoè sao thơm 15-20g

Hạt muồng (sao đen) 20g

Cúc hoa 5g

Hãm với nước sôi, thêm ít đường cho hơi ngọt, thay nước chè , uống trong ngày.

Người có bệnh cao huyết áp nên dùng nước sắc hoa hoè uống thay các loại nước khác trong ngày để đề phòng các tai biến mạch máu não, vừa dễ sử dụng vừa có tác dụng phòng bệnh và tránh được các nguy cơ đáng tiếc.

CÂY DIỆP HẠ CHÂU

Cây diệp hạ châu người dân Việt Nam gọi dân dã là chó đẻ răng cưa, hoặc mỹ miều hơn là diệp hạ châu (ngọc dưới lá).

Diệp hạ châu

Công dụng

Tại Pháp, Chanca Piedra còn được sử dụng điều trị sỏi thận, sỏi mật. Sản phẩm của Chanca Piedra gọi là Pilosuryl, được bán như một thuốc lợi tiểu. Chanca Piedra có thể sử dụng kéo dài nhằm khôi phục chức năng bình thường của gan và giải độc cơ thể (do gan có chức năng thải độc, chống độc cho cơ thể). Việc ăn các thức ăn có nhiều bơ, sữa, thịt, đường, thức ăn nhanh, hóa chất sát trùng, uống nước tiệt trùng bằng Clo, nước chứa ký sinh trùng, sử dụng thuốc tránh thai ở phụ nữ trẻ và hormone ở phụ nữ mãn kinh, điều trị bằng các hormone steroid, hóa trị liệu điều trị ung thư, sử dụng thuốc chữa bệnh tim mạch và ngăn ngừa chống loãng xương... cũng chính là những nguyên nhân thường gặp gây tổn hại cho gan.

Một nghiên cứu được tiến hành tại trường Ðại học Dược Santa Catarina (Brazil) vào năm 1984 về Chanca Piedra đã phát hiện có một alkaloid là phyllanthoside. Alkaloid này có tác dụng chống co thắt mạnh. Phyllanthoside có tác dụng chống co thắt cơ vân và cơ trơn, do vậy có thể giải thích được hiệu quả chữa bệnh của nó trong điều trị sỏi thận, sỏi mật.

Các nhà nghiên cứu Brazil cũng khám phá tác dụng giảm đau mạnh và bền vững của vài giống Phyllanthus, bao gồm Phyllanthus niruri. Trong một cuốn sách có tựa đề "Cats claw, cây leo chữa bệnh" của Peru, tác giả Kenneth Jones đã dành hẳn một chương mục để nói về Chanca Piedra. Chúng ta biết rằng, morphin là một thuốc giảm đau gây nghiện cổ điển nhất trên thế giới và indomethacin cũng là một thuốc chống viêm, giảm đau. Thế nhưng, trong các cuộc thử nghiệm, Phyllanthus niruri có tác dụng giảm đau mạnh hơn indomethacin gấp 4 lần và mạnh hơn 3 lần so với morphin!

Tác dụng giảm đau của Phyllanthus đã được các nhà khoa học Brazil cho là do acid gallic, ester ethyl và hỗn hợp steroid như beta sitosterol và stigmasterol. Từ những năm 1960 đã có thông tin nói về Chanca Piedra. Những nghiên cứu của Brazil và Ấn Ðộ trước hết được áp dụng trên những người bản xứ. Trong một vài nghiên cứu khác đã được báo cáo, người ta không thấy có sự khác biệt nào của Phyllanthus niruni và Phyllanthus amarus vì các hoạt chất của 2 cây này là giống nhau. Trong thực tế, các nhà khoa học cho rằng nó chỉ là một loại cây với hai tên gọi khác nhau mà thôi. Tác dụng chống co thắt của Chanca Piedra trong nghiên cứu giữa năm 1980 của các nhà khoa học Brazil đã giải thích tác dụng điều trị sỏi thận và sỏi bàng quang trong dân gian của cây thuốc này.

Những Alkaloid của Phyllanthus có tác dụng làm giãn cơ, đặc biệt là đối với cơ quan bài tiết. Các nhà nghiên cứu phỏng đoán nó có tác dụng làm mòn sỏi ở đường tiết niệu (thận và bàng quang).

Nghiên cứu của Nhật Bản và Ấn Ðộ trong năm 1980 đã xác định những tác dụng điều trị của Chanca Piedra đối với bệnh gan là do tác dụng của các hoạt chất phyllanthin, hypophyllathin và triacontanal. Glycoside được tìm thấy trong Chanca Piedra đã ức chế men Aldose reductase (AR), do các nhà nghiên cứu Nhật Bản kết luận thông qua một nghiên cứu tiến hành vào những năm 1988-1989. Còn vào các năm 1994-1995, các nhà khoa họcBrazil đã phát hiện tác dụng giảm đau của Chanca Piedra. Trong một ghi chú đặc biệt, cuối những năm 80, Break Stone đã gây được sự chú ý đối với toàn thế giới về tác dụng chống virus viêm gan B của cây thuốc này.

Những thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em với bệnh viêm gan truyền nhiễm bằng một thuốc chứa Phyllanthus amarus của Ấn Ðộ đã cho kết quả hứa hẹn trong cả Invivo và Invitro. Nghiên cứu Invitro về sự ức chế virus viêm gan B của Break Stone được báo cáo tại Ấn Ðộ vào năm 1982.

Trong nghiên cứu trên Invivo, Break Stone cũng đã loại trừ virus gây bệnh viêm gan B ở những động vật có vú trong 3-6 tuần.

Những nghiên cứu khác tiến hành vào những năm 1990-1995 đã cho thấy Chanca Piedra có tác dụng chống lại virus viêm gan B.

Chúng ta cũng biết rằng virus viêm gan B không chỉ tồn tại trong giai đoạn cấp tính mà còn tồn tại trong cơ thể và có thể tiến tới gây ung thư gan. Các nghiên cứu cho thấy có tới 90% bệnh nhân bị ung thư gan đã từng mắc bệnh viêm gan virus B và đây quả là một điều đáng sợ! Phyllanthus niruri và Phyllanthus amatrus đã cho thấy các dược chất tự nhiên không độc mà nó chứa đựng có tác dụng đối với virus viêm gan B.

Cây thuốc này còn có tác động tới cả hệ thống miễn dịch của cơ thể. Khi mà AIDS trở thành đại dịch nguy hiểm trên thế giới và cho tới nay việc điều trị vẫn còn là một thách thức đối với khoa học, thì những nghiên cứu gần đây nhất của Break Stone đã phát hiện tác dụng chống virus HIV của cây thuốc này. Vào năm 1992, các nhà khoa học Nhật Bản cũng đã khám phá tác dụng ức chế sự phát triển HIV-1 của Phyllanthus niruri thông qua sự kìm hãm quá trình nhân lên của virus HIV với cao lỏng của cây thuốc. Trong một nghiên cứu khoa học được tiến hành vào năm 1996, Viện nghiên cứu Dược học Bristol Myezs Squibb cũng đã chiết xuất được ít nhất một hoạt chất có tác dụng này và người ta đã đặt tên nó là "Nuruside".

Người ta không gặp bất cứ độc tính nào ngoại trừ hiện tượng gây chứng chuột rút trong thời gian sử dụng thuốc. Nếu có hiện tượng chuột rút thì cần giảm 1/2 liều điều trị, thuốc đảm bảo an toàn ở phụ nữ có thai.

QUẢ MƠ

Từ xa xưa mơ được nhiều dân tộc trên thế giới, nhất là ở phương Đông biết đến, không chỉ trong đồ ăn thức uống mà còn là vị thuốc. Mơ nói chung và mơ Hương Tích nói riêng với màu vàng óng tỏa mùi hương và vị chua đặc biệt đã có tác dụng kỳ diệu làm dịu cơn khát. Trong quả mơ đã có sẵn tính chất “sinh tân chỉ khát” tuyệt vời được ghi nhận từ rất xa xưa.


Quả mơ
Đông y gọi quả mơ là mai tử, vị chua, tính bình. Mai tử vào các kinh can, tỳ, phế, đại tràng.
Trong thịt quả mơ có nhiều loại vitamin, đặc biệt là vitamin A và vitamin C, acid citric, đường, chất nhầy, muối khoáng. Bạch mai (mơ muối) có tác dụng cân bằng sự thẩm thấu giữa tế bào và máu, kích thích ăn ngon.

Cách dùng và tác dụng của quả mơ

Nước quả mơ tươi pha đường hoặc nước mơ ngâm đường pha nước uống giải khát rất tốt, tăng sức bền bỉ, chống mệt mỏi, giảm mất mồ hôi, đỡ mệt mỏi, ăn ngon miệng, ít bị rối loạn tiêu hóa.

Rượu mơ cũng có tác dụng tương tự, giúp ăn ngon, tiêu cơm, thịt, chất béo và tăng thị lực, dùng vào mỗi bữa ăn với 1 chén con 25-30ml. Rượu mơ xanh, tính hàn, vị ấm, chữa kém ăn, bụng có giun. Vang mơ có thể uống gấp đôi.

Chế thành diêm mai, ô mai và rất nhiều loại mứt, kẹo ăn, ngậm cho thơm miệng khi bị ngứa họng, buồn nôn, ho, có đờm.

Chữa răng đau nhức: quả mơ chín giã nát đắp vào răng.

Đau bụng giun: 300g bạch mai, 3 thìa đường sắc nước uống.

Trúng phong, răng nghiến chặt, dùng ô mai đánh gió, chà răng.

Giải rượu: dùng mơ nấu với trà uống (rất hay).

Làm đẹp da, ở một số nước Âu Mỹ dùng thịt quả mơ phối hợp quả lê chế thành mặt nạ đắp mặt, cổ trước khi đi ngủ vài giờ làm mất hết nếp nhăn “da sẽ rất đẹp” (phương pháp của bà Barbara Liebhart Heinerman - Mỹ).

Mụn cóc (hạt cơm) trên da: ô mai 30g ngâm nước muối 24g (bỏ hạt) và ít giấm nghiền mịn đắp lên mụn cơm.

Rượu thanh mai (mơ xanh) chữa phong thấp (trong uống ngoài xoa) nôn mửa, đau bụng, phòng cảm nắng ra mồ hôi tay chân.

Giữ thức ăn khỏi ôi thiu vào mùa nóng nực, có tác dụng sát khuẩn và ký sinh vật.

Bạch mai có trong nhiều bài thuốc chữa cảm mạo, bệnh về hô hấp, đại tiện ra máu, kinh nguyệt ra nhiều, tiêu chảy phân nát, viêm kết tràng, sa hậu môn, ra mồ hôi nhiều, tiểu tiện không tự chủ, bệnh đái tháo đường, sỏi mật, viêm túi mật, bệnh khớp, thiếu máu, các bệnh về tai (ù tai).

Một số bài thuốc

Chữa ho lâu ngày: bạch mai 20g, cát cánh 10g, mạch môn 10g, cam thảo 5g, trần bì 10g, hoàng kỳ 20g, 2 bát nước sắc còn 1/2 bát, chia 2 lần uống trong ngày.

Đái tháo đường, không tự chủ được tiểu tiện: bạch mai, thục địa, hoài sơn, đan phiến, ngũ vị tử. Mỗi loại 10g. Nhục quế 2g. Sắc uống.

Sỏi mật, viêm đau túi mật: bạch mai, cam thảo chế, kim tiền thảo, hải kim sa, diên hồ tố, kê nội kim. Mỗi loại 15g sắc uống.

Đi lỏng dài ngày do tỳ hư: bạch mai, bạch truật, kha tử, đảng sâm, mỗi loại 10g sắc uống.

Ra mồ hôi trộm: bạch mai, hoàng kỳ, ma hoàng căn, đương quy. Mỗi loại 10g sắc uống.

Miệng khô khát phiền nhiệt: bạch mai, thiên hoa phấn, ngọc trúc, thạch hộc. Mỗi loại 6g sắc uống.

Tẩy giun đũa: bạch mai 10g, xuyên tiêu 6g, gừng 3 lát sắc uống.

Ù tai (có tiếng vo ve trong tai): nghiền hay ép mấy nhân hạt mơ lấy ít dầu nhỏ vào lỗ tai (kinh nghiệm dân gian của Pháp).

Nhân hạt mơ

Dùng phần thịt quả rồi thì nhớ không vứt nhân hạt, nên giữ lại để làm thuốc chữa ho, khó thở rất đơn giản mà hiệu nghiệm. Nhân hạt mơ còn có nhiều công dụng khác mới được phát hiện rất quý để chữa những bệnh nan y như các loại ung thư. Trên thế giới dân tộc nào dùng mơ và hạt mơ làm thức ăn và thuốc thì có tỷ lệ bệnh ung thư thấp (phổi, thực quản, tuyến tiền liệt, tử cung). Nhân hạt mơ chứa nhiều vitamin E làm thức ăn và mỹ phẩm chống oxy hóa, chống lão hóa.

Hạnh nhân là một vị thuốc quý để chữa nhiều bệnh ngoài da bằng cách bôi ngoài hoặc uống. Nhiều bệnh trong phủ tạng cũng dùng hạnh nhân chữa có hiệu quả, đặc biệt là phổi có co thắt gây khó thở như viêm phế quản thể hen. (Ho không khó thở không dùng hạnh nhân). Hạnh nhân Trung Quốc đã được nghiên cứu về thành phần hóa học và có tác dụng dược lý. Giống cây hạnh này chưa tìm thấy ở Việt Nam (Prunus armeniaca Linn. Var Ansu Maxim) còn cây mơ Việt Nam (Ameraca vulgaris Lám) chưa được nghiên cứu đầy đủ mà chỉ mới sử dụng dựa vào tài liệu cổ, kinh nghiệm dân gian và các lương y.

Hạnh nhân Trung Quốc ta đang nhập làm thuốc chia làm hai loại:

Khổ hạnh nhân (hạnh nhân đắng) có tên như trên, chủ yếu làm thuốc (công nhiều hơn bổ).
Điềm hạnh nhân (hạnh nhân ngọt) chủ yếu làm thức ăn hoặc để làm thuốc bổ dưỡng (bổ nhiều hơn công).
Năm 1951 người ta phát hiện trong dịch nhân hạt mơ có acid pangamic tức là vitamin B15, có tác dụng phục hồi sức khỏe, chữa bệnh tim phổi kéo dài tuổi thọ, từ đó mơ được dùng nhiều hơn. Vào năm 1968 đã chiết xuất được từ quả mơ một chất chống trực khuẩn lao. Từ nhân hạt mơ chiết được tinh dầu (tinh dầu hạnh nhân). Tinh dầu này không thể thay thế dầu hạnh nhân (nấu cao toàn bộ từ nhân hạt mơ). 2 dạng này có tác dụng sinh học cho cơ chế giảm ho khác nhau trong lý luận Đông y và Tây y. Đông y đã dùng hạt mơ dưới 2 dạng; để nguyên và giã nát cho từng đối tượng bệnh nhân do suyễn có hay không kèm theo đi ngoài lỏng (giã nát phóng thích nhiều dầu gây nhuận tràng). Tùy trường hợp bệnh mà nhân hạt mơ được bóc vỏ bỏ đầu nhọn mầm hạt. Trường hợp phong hàn lại phải để nguyên để phát tán. Để phát huy công dụng của hạnh nhân còn phải biết phối ngũ với các vị khác theo biện chứng luận trị Đông y vô cùng tinh tế và kỳ diệu. Gần đây một số nước khuyến cáo cấm dùng các chiết phẩm từ hạt mơ, đào là Amygdalin vì có thể gây một số tác dụng phụ không có lợi.

Nhân hạt mơ được dùng ngày càng nhiều nên đã xuất hiện nhiều hạnh nhân giả bằng đủ các loại nhân hạt, rất khó phân biệt. Cần tham khảo ý kiến của những người có kinh nghiệm.

MỘC NHĨ ĐEN

Mộc nhĩ đen là một trong những thực phẩm hết sức thông dụng ở nước ta. Thường người ta hay dùng nó làm nguyên liệu phụ cho các món ăn, trước tiên để làm tăng thêm màu sắc hấp dẫn, sau là tạo hương vị thơm ngon và cảm giác sần sật rất thú vị khi thưởng thức. Ngoài giá trị dinh dưỡng khá cao, mộc nhĩ đen còn có công dụng phòng chống bệnh tật rất độc đáo.

Mộc nhĩ đen phòng chống bệnh tật rất độc đáo
Mộc nhĩ đen còn gọi là vân nhĩ, thụ kê, nhĩ tử, mộc nga, mộc nhu, mộc ngài, mộc khuẩn... Tên khoa học là Auricularia polytricha Sacc., thuộc họ Mộc nhĩ Auriculariaceae. Thực chất đây là một loại nấm mọc trên những cây, cành gỗ mục, có hình dạng trông giống như tai người, mặt ngoài màu nâu nhạt, có lông mịn, mặt trong nhẵn màu nâu sẫm. Trước đây, người ta thường thu hái mộc nhĩ mọc hoang đem phơi hoặc sấy khô, hiện nay nhiều nơi đã trồng và chế biến theo phương pháp công nghiệp nên năng suất thu hoạch rất cao.

Mộc nhĩ chứa nhiều protid, chất khoáng và vitamin. Mỗi 100g mộc nhĩ có chứa 10,6g protid; 0,2g lipid; 65,5g glucid; 201mg canxi; 185mg phốt-pho; 185mg sắt; 0,03mg caroten; 0,15mg vitamin B1; 0,55mg vitamin B2; 2,7mg vitamin B3. Trong glucid chủ yếu là mannose, polymannose, glucose, xylose, pentose... Hàm lượng chất béo tuy không cao nhưng chủng loại khá phong phú, có cả lecithin, cephalin và sphingomyelin. Ngoài ra, mộc nhĩ còn chứa rất nhiều loại sterol như ergosterol và 22,23 - dihydroergosterol. Có thể nói, mộc nhĩ rất giàu chất dinh dưỡng, đặc biệt hàm lượng sắt rất cao, vượt xa cả các loại thực phẩm vốn chứa nhiều sắt khác như rau cần, vừng, gan lợn...

Tác dụng của mộc nhĩ theo y học cổ truyền

Theo dinh dưỡng học cổ truyền, mộc nhĩ đen vị ngọt, tính bình, có công dụng lương huyết chỉ huyết (làm mát và cầm máu), ích khí dưỡng huyết, nhuận phế ích vị, nhuận táo lợi tràng. Thường được dùng làm thức ăn và làm thuốc cho những người mắc các chứng bệnh như xuất huyết (đại tiện ra máu do trĩ, kiết lỵ, tiểu ra máu, xuất huyết đáy mắt, rong kinh, băng lậu, ho ra máu...), táo bón, viêm dạ dày mạn tính thể vị âm bất túc, ho do phế táo, thiếu máu... Kết quả nghiên cứu hiện đại cho thấy, mộc nhĩ đen có khả năng ức chế quá trình ngưng tập tiểu cầu, phòng chống tình trạng đông máu do nghẽn mạch, ngăn cản sự hình thành các mảng vữa xơ trong lòng huyết quản... Vì thế, đối với những người bị bệnh cao huyết áp, vữa xơ động mạch, thiểu năng tuần hoàn não, thiểu năng động mạch vành..., mộc nhĩ là một trong những thực phẩm lý tưởng.

Mặt khác, chất keo thực vật vốn có khá nhiều trong mộc nhĩ có tác dụng thu gom các bụi đất, tạp chất còn đọng lại trong đường tiêu hóa để cơ thể đào thải ra ngoài dễ dàng, góp phần làm sạch dạ dày và ruột. Mặt khác, mộc nhĩ còn có tác dụng chống lão hóa, kháng khuẩn, chống phóng xạ và ức chế một số chủng tế bào ung thư. Bởi thế, nhiều chuyên gia dinh dưỡng cho rằng, mộc nhĩ là một trong những thực phẩm có công năng trường thọ.

Trong thực tế, nhiều người chỉ dùng mộc nhĩ như một thứ nguyên liệu phụ trong quá trình chế biến các món ăn. Nhưng trong y học cổ truyền, người xưa đã dùng mộc nhĩ dưới nhiều dạng khác nhau như xào nấu, sấy khô tán bột uống hoặc bôi đắp..., nhằm mục đích cung cấp chất dinh dưỡng và phòng chống bệnh tật.

Một số cách dùng cụ thể

-Mộc nhĩ 15-30g, ngâm nước ấm cho nở hết cỡ rồi rửa sạch, hầm nhừ, chế thêm chút đường trắng, ăn trong ngày.
Công dụng: dưỡng âm chỉ huyết, thường dùng để phòng chống các chứng xuất huyết.

-Mộc nhĩ 60g, huyết dư thán 10g. Mộc nhĩ sao tới khi bốc khói là được, hai thứ tán bột, trộn đều, mỗi ngày uống 6-10g với nước ấm hoặc có pha một chút dấm thanh.
 Công dụng: tán ứ chỉ huyết, dùng cho phụ nữ bị băng lậu (băng là băng huyết, băng kinh; lậu là rong huyết, rong kinh).

-Mộc nhĩ 5g, đại táo 5 quả, gạo tẻ 100g, đường phèn vừa đủ. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch; Đại táo bỏ hạt. Hai thứ đem nấu với gạo thành cháo, chế thêm đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày.
Công dụng: tư âm nhuận phế, kiện tỳ chỉ huyết, bổ não cường tim và kháng ung, dùng thích hợp cho những người bị ho lâu ngày cơ thể suy nhược, thổ huyết, kinh nguyệt không đều, cao huyết áp, bệnh mạch vành tim, vữa xơ động mạch, ung thư...

-Mộc nhĩ 60g, vừng đen 15g. Mộc nhĩ một nửa sao cháy, một nửa sao khô, vừng đen sao thơm, tất cả tán vụn trộn đều, mỗi ngày lấy 6g hãm với 120 ml nước sôi, uống thay trà.
 Công dụng: tư bổ can thận, kiện não ích trí, dùng lâu rất có lợi cho sức khỏe cả về thể chất lẫn tinh thần.

-Mộc nhĩ 200g, hồng táo 100g, đường phèn 250g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm cho nở hết, rửa sạch, đem hầm với hồng táo trong 2.000ml nước cho thật nhừ, chế thêm đường phèn, chia làm 7 phần, mỗi ngày ăn 1 phần, chia làm 2 lần sáng và chiều.
Công dụng: bổ thận chỉ huyết, dùng cho phụ nữ xuất huyết tử cung cơ năng thuộc thể thận hư.

-Mộc nhĩ 15g, hồng táo 30 quả. Hai thứ đem hầm nhừ, ăn trong ngày.
Công dụng: dưỡng huyết điều kinh, dùng cho người bị thiếu máu và phụ nữ bị băng lậu và khí hư.

-Mộc nhĩ 30g, đường đỏ 20g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch, nấu nhừ rồi cho đường đỏ vào, đánh nhuyễn, chia ăn 2 lần trong ngày.
Công dụng: lương huyết chỉ huyết, giáng áp, dùng thích hợp cho những người bị xuất huyết tử cung cơ năng và cao huyết áp.

-Mộc nhĩ và biển đậu lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9g.
 Công dụng: phòng chống bệnh tiểu đường.

-Mộc nhĩ 30g, hoa hiên 120g, đường trắng vừa đủ. Hai thứ rửa sạch, nấu thành canh, chế thêm đường, ăn nóng.
Công dụng: lợi thủy thông lâm, dùng cho người bị tiểu ra máu (huyết lâm).

-Mộc nhĩ 6g, thịt lợn nạc 50g, phật thủ 9g, ý dĩ 20g. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch; Thịt lợn thái miếng; Phật thủ thái phiến. Tất cả đem nấu thành canh ăn trong ngày.
Công dụng: tuyên tý thông dương, hoạt huyết hóa ứ, dùng cho những người bị bệnh lý động mạch vành tim.

-Mộc nhĩ sấy khô nghiền thành bột, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 -10g với đường đỏ.
Công dụng: trị liệu xuất huyết tử cung cơ năng.

-Mộc nhĩ 30g, dạ dày lợn 1 cái. Mộc nhĩ ngâm nước ấm, rửa sạch; Dạ dày lợn làm sạch; Hai thứ đem nấu chín, chế thêm gia vị, ăn trong ngày, dùng liên tục 3-5 ngày.
Công dụng: trị chứng đi tiểu nhiều lần.

-Mộc nhĩ 20g, ngâm nước ấm, rửa sạch, nấu với 20g đường phèn lấy nước uống trong ngày, hoặc nấu cháo với gạo nếp và hạt sen ăn để phòng chống bệnh viêm phế quản mạn tính và chứng giảm bạch cầu trong máu ngoại vi.

-Mộc nhĩ 5g, đậu phụ 200g, hai thứ nấu thành canh ăn thường xuyên, hoặc mộc nhĩ 6g nấu với đường phèn lấy nước uống trước khi đi ngủ.
Công dụng: phòng chống cao huyết áp.

Ngoài ra, mỗi ngày ăn thường xuyên từ 10-20g mộc nhĩ đen có thể phòng chống hữu hiệu tình trạng táo bón.
 Điều cần chú ý là những người bị đi lỏng mạn tính do viêm đại tràng, hoặc viêm dạ dày mạn tính thì không nên ăn mộc nhĩ đen.

MẪU ĐƠN

Mẫu đơn là một dược thảo quý có tác dụng chữa trị nhiều chứng bệnh, đồng thời là cây cảnh có hoa rất đẹp, nên còn có tên là hoa vương, thiên hương quốc sắc, phú quý hoa. Cây sống lâu năm, cao 1-1,5m, rễ phát triển thành củ. Lá thường chia thành 3 lá chét, lá chét giữa lại chia thành 3 thùy, mặt trên xanh, mặt dưới có lông màu trắng nhạt. Hoa mọc đơn độc ở đầu cành, rất to, đường kính đạt tới 15-20cm; màu đỏ, tía hoặc trắng rất đẹp, mùi thơm gần giống mùi của hoa hồng.

Mẫu đơn là một dược thảo quý...
Tác dụng

Mẫu đơn bì và hoạt chất paeoniflorin có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống viêm, chống thấp khớp, an thần, hạ sốt, giảm đau, chống loét dạ dày, chống dị ứng và chống co giật. Ngoài ra còn có tác dụng gây giãn mạch vành tim và mạch ở cơ chân, gây hạ huyết áp, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu, ức chế sự đông máu rải rác trong mạch và bảo vệ gan chống ảnh hưởng độc hại gan của hóa chất trong thực nghiệm trên động vật.
Trong thực nghiệm phản xạ có điều kiện, mẫu đơn bì và hoạt chất paeoniflorin có khả năng giảm sự suy yếu nhận thức gây ra bởi scopolamin trong việc tìm lối ra qua mê cung ở chuột cống trắng và trong việc phân biệt sự chói sáng ở chuột cống già. Trên lâm sàng, có khả năng điều trị rối loạn nhận thức, sa sút trí tuệ ở người cao tuổi.

Hoạt chất paeonol của mẫu đơn bì có tác dụng kháng khuẩn khá mạnh, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu, chống huyết khối, chống viêm, an thần, giảm đau và chống đột biến. Ngoài ra còn một hoạt chất khác có tác dụng kháng siêu vi khuẩn. Mẫu đơn bì còn ức chế men aldose reductase, làm giảm tích lũy sorbitol trong tế bào, do vậy làm giảm những biến chứng mạn tính của bệnh đái tháo đường như bệnh võng mạc, bệnh thần kinh và bệnh thận. Mẫu đơn bì cũng ức chế men monoamin oxydase, do vậy có khả năng điều trị bệnh trầm cảm.

Công dụng

Trong y học cổ truyền Việt Nam, mẫu đơn bì được dùng làm thuốc trấn kinh, giảm đau, chữa nóng âm ỉ kéo dài, sốt về chiều và đêm, không có mồ hôi, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau kinh, kinh nguyệt không đều và bệnh phụ khoa sau khi sinh. Ngày dùng 6-12g dưới dạng thuốc sắc.

Trong y học cổ truyền Trung Quốc và nhiều nước phương Ðông, mẫu đơn bì được dùng làm thuốc hạ nhiệt, chống viêm, giảm đau, chống co thắt trong điều trị nhức đầu, chóng mặt, viêm rễ thần kinh, đau kinh, bế kinh, đau bụng, đau ngực, các bệnh có co giật, thoát mạch, để dự phòng và điều trị các bệnh huyết khối tắc mạch, chuột rút cơ bắp chân, bệnh gan, dị ứng, sa sút trí tuệ ở người cao tuổi và dùng làm thuốc chống đông máu.

Nhân dân một số nước còn dùng mẫu đơn bì chữa viêm da, dị ứng, mụn nhọt, lở loét, trị bỏng và gây vô sinh. Không dùng cho phụ nữ mang thai vì có thể gây sẩy thai.

*Bài thuốc có mẫu đơn bì

-Chữa suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ, di tinh: mẫu đơn bì 8g, Thục địa 16g; Sơn thù, Hoài sơn, mỗi vị 12g; Trạch tả, Phục linh, Phụ tử chế, mỗi vị 8g; Nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa hen phế quản khi hết cơn hen: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; Sơn thù, phục linh, trạch tả, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang hoặc làm hoàn uống mỗi ngày 20g.

-Chữa viêm khớp cấp: mẫu đơn bì 10g, huyền sâm 20g; Tiền hồ, Hoàng cầm, Tri mẫu, Kỷ tử, Sinh địa, Mạch môn, Thạch hộc, mỗi vị 12g; Thăng ma 8g; Ðậu khấu, Xạ can, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa tăng huyết áp: mẫu đơn bì 8g, Thục địa 16g, Hoài sơn 12g; Sơn thù, Trạch tả, Phục linh, Đương quy, Bạch thược mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa đau nhức do máu kém lưu thông, gây thiếu máu: mẫu đơn bì 100g, Đương quy 1.000g; Hoài sơn, Ngọc trúc, Hà thủ ô đỏ, Đan sâm mỗi vị 200g; Bạch linh, Mạch môn, Trạch tả mỗi vị 100g; Thanh bì, Chỉ thực, Sơn thù nhục, mỗi vị 50g. Tán bột làm viên nặng 5g. Ngày uống 4-6g.

-Chữa viêm loét dạ dày tá tràng: mẫu đơn bì 8g, Bạch thược 12g; Thanh bì, Chi tử, Bối mẫu, Ttrạch tả, Hoàng liên, mỗi vị 8g; Trần bì 6g, Ngô thù du 4g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa viêm gan siêu vi khuẩn cấp tính: mẫu đơn bì 16g, Nhân trần 40g, Sinh địa 24g, Chi tử 16g; Hoàng liên, Đan sâm, Huyền sâm, Thăng ma, Thạch hộc, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa xơ gan cổ trướng: mẫu đơn bì 8g, Rễ cỏ tranh 20g; Thục địa, Hoài sơn, Bạch truật, Địa cốt bì, mỗi vị 12g; Sơn thù, Trạch tả, Phục linh, Đương quy, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa suy nhược thần kinh: mẫu đơn bì 8g; Kỷ tử, Tthục địa, Hoài sơn, Câu đằng, Sa sâm, Mạch môn, mỗi vị 12g; Cúc hoa, Sơn thù, Trạch tả, Phục linh, Táo nhân, Bá tử nhân, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa đái tháo đường: mẫu đơn bì 12g; Thục địa, Hoài sơn, mỗi vị 20g; Kỷ tử, Thạch hộc, mỗi vị 12g; Sơn thù, Thiên hoa phấn, âSa sâm, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa viêm tắc động mạch: mẫu đơn bì 12g; Cam thảo, Đương quy, mỗi vị 20g; Kim ngân hoa, Xích thược, Qua lâu nhân, Ngưu tất, mỗi vị 16g; Huyền sâm, Đào nhân, Đan sâm, mỗi vị 12g; Binh lang, Chỉ xác, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa đau kinh: mẫu đơn bì, Đào nhân, Hồng hoa, Huyền hồ sách, Hương phụ, mỗi vị 8g; Mộc hương 6g, Cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

-Chữa rong huyết: mẫu đơn bì 12g, hoa cây cỏ nến (bồ hoàng), sao đen 20g; Ðịa du, A giao, Huyết dụ, Bạch thược, Sinh địa, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

-Chữa đơn độc, sưng tấy, sưng vú, viêm tinh hoàn: mẫu đơn bì, Đơn đỏ, Huyết giác, Cam thảo dây, Đơn châu chấu, Chó đẻ răng cưa, Huyền sâm, Mạch môn, Ngưu tất, Mộc thông, Hoàng đằng, Chi tử, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

MỘT SỐ BÀI THUỐC TỪ CÂY MÍA

Cây mía là nguồn cung cấp nguyên liệu làm đường, mật lại có thể dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt. Nước mía có vị ngọt mát, tính bình có tác dụng thanh nhiệt, giải khát, giải độc, tiêu đờm, chống nôn mửa, chữa sốt, tiểu tiện nước đỏ và rất bổ dưỡng.

Cây mía dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt
*Một số bài thuốc từ cây mía:

-Chữa nứt nẻ chân: lấy ngọn mía và bèo cái, mỗi thứ khoảng 100g giã nát, thêm vào một bát nước tiểu (trẻ em càng tốt) nấu sôi. Ðể nước ấm rồi ngâm chỗ nứt nẻ vào khoảng 30 phút.

-Chữa chín mé: lấy lõi trắng ở ngọn cây mía giã nát trộn với lòng trắng trứng gà rồi đắp và băng lại.

-Chữa ngộ độc: thân mía 80g, thục địa, ý dĩ, cam thảo bắc mỗi thứ 30g, lá tre, kim ngân, rễ cỏ tranh, rễ ngưu tất mỗi thứ 20g. Cho vào 1 lít nước, nấu sôi rồi đun lửa nhỏ 15 - 20 phút, uống nóng hoặc để nguội tùy theo sở thích mỗi người. Cũng có thể chữa ngộ độc bằng cách lấy thân cây mía giã nát cùng với rễ cỏ tranh, ép lấy nước đun sôi trộn với nước dừa mà uống.

-Chữa khí hư: lá cây mía tím 30g, lá huyết dụ 30g, hoa mò đỏ 20g, rễ mò trắng 80g. Tất cả các vị trên thái nhỏ, sao vàng rồi sắc lên uống hàng ngày.

-Làm thuốc an thai: mầm mía 30g, củ gai 30g, ích mẫu 20g, củ gấu 80g, sa nhân 2g. Tất cả các vị thái nhỏ, phơi khô sắc với 400ml nước, còn 100ml uống trong ngày, chia làm 2 lần. Ngoài ra, mía còn có những công dụng khác: nước mía nấu với hạt kê ăn trong ngày làm nhuận tim phổi. Chữa ho do hư nhiệt, uống nhiều nước mía có khả năng ngăn chặn cơn sốt...

Trong các loại mía thì chỉ có mía đỏ, mía tím, mía bầu, mía đường chèo là để ăn và làm thuốc.

Lưu ý: Trong bữa ăn có cua thì không nên ăn cùng với mật mía, dễ sinh độc.

Thứ Tư, 21 tháng 8, 2013

CÂY HOA NHÀI

Hoa nhài còn có tên gọi khác như cây hoa lài, là cây thân gỗ thường mọc thành bụi, lá bóng cả hai mặt, phiến lá hình bầu dục hơi trái xoan, mọc đối.

Cây hoa nhài
Một số bài thuốc nam thường dùng:

Chữa ngoại cảm, phát sốt: hoa nhài 4g, chè xanh 10g, thảo quả 3g. Sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần.

Chữa tiêu chảy: hoa nhài 6g, vỏ ổi dộp 8g, thảo quả 3g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày. Hoặc hoa nhài 10g, vỏ quả lựu 10g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần.

Chữa mất ngủ: hoa nhài 10g, tâm sen 10g, hạt muồng (quyết minh tử) 12g (sao đen). Sắc uống ngày một thang chia 3 lần, uống 3-5 ngày liên tục.

Chữa mất ngủ kéo dài: rễ hoa nhài 100-200g, ngâm trong 1 lít rượu trắng 35-40o. Ngày uống 10-20ml trước khi đi ngủ. Nếu không uống được rượu có thể dùng rễ nhài hãm uống cũng được.

Chữa nhức đầu, hoa mắt chóng mặt: hoa nhài 6g, hoa cúc vàng (kim cúc) 6g. Hãm uống thay chè.

Chữa tăng huyết áp: hoa nhài 10g, hoa hòe 10g, kim cúc 6g, hoa đại 6g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa rôm sảy: lá nhài 50g, lá ngải cứu 30g, lá sài đất 20g. Sắc uống ngày một thang, chia 2-3 lần. Uống liên tục 3-5 ngày.

Chữa mụn nhọt: hoa nhài 10g, bồ công anh 20g, kim ngân hoa 20g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang chia 2-3 lần.

Chữa sưng đau do chấn thương: rễ hoa nhài 12g, lá thanh táo 12g, cam thảo đất 16g. Sắc uống ngày một thang.

MÀO GÀ HOA ĐỎ

Còn có tên gọi là kê quan hoa, mồng gà... Là cây thảo thân đứng, cóp mầu đỏ. Cụm hoa xòe ra hình quạt hoặc hình vại, có mầu đỏ. Mọc nhiều nơi trong nước, được nhân dân ta trồng để làm cảnh và dùng hoa, hạt, toàn cây... làm thuốc chữa bệnh.

Mào gà hoa đỏ
Theo Ðông y, mào gà đỏ có vị ngọt, tính mát. Có tác dụng tiêu viêm, cầm máu.

Một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian:

Chữa chảy máu cam: hoa mào gà đỏ 20g, hoa hòa 10g, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa ho ra máu: hoa mào gà đỏ 15g, lá huyết dụ 20g sao cháy, lá trắc báo 20g, sao cháy, cỏ nhọ nồi 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa tiêu chảy: hoa mào gà 10g, vỏ dộp cây ổi 8g, vỏ quả lựu 10g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa rong kinh: hoa mào gà 20g, ngải cứu 20g sao cháy. Sắc uống ngày một thang.

Chữa lỵ lâu ngày: hoa mào gà 20g, cỏ seo gà 20g, lá mơ lông 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa khí hư: hoa mào gà 20g, rễ cây bấn 20g, bồ công anh 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa sốt xuất huyết: hoa mào gà 20g, lá trắc bá sao đen 20g, hoa hòe sao đen 15g, ké đầu ngựa 15g, lá dâu 20g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa viêm đường tiết niệu (đái buốt, đái rắt): hoa mào gà 20g, bồ công anh 20g, mã đề 20g, râu ngô 15g, rau má 20g. Sắc uống ngày một thang.

QUẢ VẢI

Vải còn gọi là lệ chi, cây vải được trồng nhiều ở nước ta, quả vải thu hoạch vào tháng 5-6, dùng ăn tươi hay sấy khô. Hạt vải (lệ chi hạch) thái mỏng phơi hay sấy khô được dùng làm thuốc. Trong hạt vải có tanin, độ tro, chất béo. Theo Ðông y, hạt vải có vị ngọt chát, tính ôn, có tác dụng tán hàn, chữa tiêu chảy ở trẻ em với liều từ 4-8g dưới dạng bột hay sắc uống. 

Quả vải
Phần áo hạt vải thường gọi là múi vải, thành phần chủ yếu là đường, ngoài ra có vitamin A, B, C; vitamin A và vitamin B chỉ có trong múi vải tươi. Múi vải được dùng để ăn và còn là một vị thuốc trong Ðông y. Theo Ðông y, múi vải có vị ngọt chua, tính bình có tác dụng dưỡng huyết, làm hết phiền khát, chữa những bệnh mụn nhọt với liều 10-16g múi vải khô. Ngoài ra người ta còn dùng hoa vải, vỏ thân và rễ cây vải sắc lấy nước dùng súc miệng có thể chữa viêm miệng và đau răng.

Các đơn thuốc dùng múi vải và hạt vải cho một số bệnh sau:


Chữa mụn nhọt: Múi vải giã nát với ô mai tạo thành cao đắp lên mụn hoặc lấy 5-7 múi vải giã nát với ít hồ nếp, dàn thành miếng cao dán lên nơi mụn nhọt.

Chữa nấc: Vải cả quả đốt thành than, tán bột hòa với nước nóng uống.

Chữa đau răng: Vải cả quả thêm ít muối, đốt thành than, nghiền nhỏ, xát vào chỗ răng đau.

Chữa tinh hoàn sưng đau: Cách thứ nhất, hạt vải đốt thành than, nghiền nhỏ, hòa với rượu cho uống ngày 4-6g. Cách thứ hai, hạt vải, trần bì, hồi hương, 3 vị bằng nhau, tán nhỏ, ngày uống 4-6g.

Có người ăn quả vải sau đó bị nôn nao, nổi mề đay, đau bụng, nôn mửa... Các triệu chứng đó không phải do bản thân quả vải gây ra mà do một loại nấm thường thấy ở những núm quả vải bị dập nát, úng thối gây ra. Vì vậy, người dùng nên cẩn thận, không nên ăn những quả vải đã bị dập nát, thối, hỏng.

CÂY HÚNG CHANH

Là cây thân thảo, mọng nước, sống lâu năm, được nhân dân trồng làm cảnh và làm thuốc. Còn có tên gọi rau thơm lông, rau tần lá dày (miền Nam), dương tử tô.
Cây húng chanh
Một số bài thuốc nam thường dùng trong dân gian từ cây húng chanh:

Chữa cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu, nghẹt mũi, ho đờm: húng chanh 15-20g giã vắt lấy nước cốt uống, hoặc thêm gừng, hành, mỗi vị 12g cùng sắc uống và xông cho ra mồ hôi.

Chữa sốt cao không ra mồ hôi: húng chanh 20g, lá tía tô 15g, gừng tươi 5g cắt lát mỏng, cam thảo đất 15g. Sắc uống nóng cho ra mồ hôi.

Chữa ho, viêm họng: hái vài lá nhai, ngậm, nuốt nước.

Chữa viêm họng, viêm thanh quản: húng chanh 20g, kim ngân hoa 15g, sài đất 15g, củ giẻ quạt 12g, cam thảo đất 12g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa chảy máu cam: húng chanh 20g, lá trắc bá sao đen 15g, hoa hòe sao đen 10g, cam thảo đất 15g. Sắc uống ngày một thang. Lá húng chanh đem vò nát, nhét vào bên mũi chảy máu.

Chữa ho: húng chanh 10g, lá chanh 5g, vỏ quýt 5g, gừng tươi 3g, đường phèn 10g. Sắc uống ngày một thang.

Chữa ong đốt sinh đau nhức: húng chanh 20g, muối ăn vài hạt, tất cả đem giã nhỏ hoặc nhai kỹ, nuốt nước bã đắp vào chỗ ong đốt.

Chữa dị ứng nổi mề đay: lá húng chanh nhai nuốt nước, bã thì đắp hay xoa xát.

QUẢ MƯỚP

Nói đến quả mướp, người ta thường nghĩ ngay đến món canh mướp, mùng tơi và rau đay nấu với cua đồng hoặc tôm khô, ăn kèm với vài quả cà pháo chín tới giòn tan trong những ngày hè oi ả... Nhưng chắc chắn nhiều người chưa biết rằng từ quả mướp, người ta còn chế ra được khá nhiều đồ uống có công dụng giải khát chữa bệnh rất độc đáo. Xin giới thiệu một số công thức điển hình để bạn đọc có thể tham khảo và vận dụng.

Quả mướp

Công thức 1: Mướp tươi 500g, đường trắng vừa đủ. Mướp rửa thật sạch, cắt nhỏ, ép lấy nước (nếu dùng máy ép là tốt nhất) rồi hòa với đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 2: Mướp tươi 500g, khổ qua 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khổ qua bỏ ruột, rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: giải thử nhiệt, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 3: Mướp tươi 500g, khế 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp gọt vỏ, khế rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái, là loại đồ uống rất giàu sinh tố và các nguyên tố vi lượng, dùng làm nước giải khát mùa hè rất tốt.

Công thức 4: Mướp tươi 500g, củ cải 200g, đường trắng lượng vừa đủ. Mướp và củ cải gọt vỏ, thái vụn, ép lấy nước, hòa đường trắng, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: hành khí lợi niệu, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 5: Mướp tươi 500g, rau cần tây 100g, một chút muối ăn. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái miếng; Rau cần rửa sạch, cắt đoạn; Hai thứ đem ép lấy nước, lọc qua vải sạch, pha thêm một chút muối, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bình can, hạ huyết áp, thanh nhiệt trừ phong, nhuận phế, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 6: Mướp tươi 500g, măng lau 100g, một chút muối ăn. Mướp gọt vỏ rửa sạch, măng lau chần nước sôi, thái vụn, ép lấy nước, hòa thêm một chút muối, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: thanh nhiệt, tiêu viêm và phòng chống ung thư.

Công thức 7: Mướp tươi 500g, nước dừa 500ml. Mướp gọt vỏ, rửa sạch, thái miếng, ép lấy nước, hòa với nước dừa, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: giải thử nhiệt, làm sáng mắt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 8: Mướp tươi 100g, sữa bò tươi 500ml. Mướp gọt vỏ rửa sạch, thái vụn rồi ép lấy nước, hòa với sữa tươi, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: bồi bổ sức khỏe, thanh nhiệt, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Công thức 9: Mướp tươi 300g, táo tây 200g, chanh 50g, đường phèn lượng vừa đủ. Mướp và táo gọt vỏ, rửa sạch, thái vụn, ép lấy nước, hòa với nước chanh và đường phèn, dùng làm nước giải khát trong ngày. Công dụng: bổ dưỡng, lợi tiểu, thanh nhiệt, bình can, giáng áp, dùng làm nước giải khát rất tốt cho những người bị cao huyết áp, viêm thận, viêm gan.

Công thức 10: Mướp tươi 200g, hành tây 20g. Mướp và hành tây bỏ vỏ, thái vụn, ép lấy nước, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: giải độc sung dương, hóa đàm, tiêu viêm, chỉ khái.

Mướp có tên khoa học là Luffa cylindrica (L.) Roem, trong dân gian còn gọi là ty qua, thiên ty qua, bố qua, thiên lạc ty, thủy qua, miến dương qua, thô qua, miên qua... Theo dinh dưỡng học hiện đại, cứ mỗi 100g quả mướp có chứa 95,1g nước; 0,9g protid; 0,1g lipid; 3g glucid; 0,5g xeluloza; 0,5g chất tro; 28mg canxi; 45mg photpho; 0,8mg sắt; 160mcg betacaroten; 0,04mg vitamin B1; 0,06mg vitamin B2; 8mg vitamin C và một số chất như Luffein, Citruline, Cucurbitacin... Theo dược học cổ truyền, mướp vị ngọt, tính mát, vào được hai kinh Can và Vị, có công dụng sinh tân, chỉ khái, thanh nhiệt, hóa đàm, lương huyết, giải độc, an thai, thông sữa, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như sốt cao phiền khát, ho suyễn nhiều đờm (viêm họng, viêm phế quản), trĩ băng lậu, khí hư, huyết lâm (viêm đường tiết niệu, viêm bàng quang, viêm bể thận...) mụn nhọt, ung thũng, sản phụ sữa không thông, táo bón... Điều cần lưu ý, những người tỳ vị hư yếu hay đau bụng, đại tiện phân thường xuyên lỏng hoặc nát thì không nên ăn và những người liệt dương thì không được ăn nhiều.

Thứ Ba, 20 tháng 8, 2013

NGUY CƠ CAO NGỘ ĐỘC TỪ CHẢ CÁ MUA SẴN

Nguy cơ cao ngộ độc từ chả cá mua sẵn

Chả cá được rất nhiều bà nội trợ lựa chọn để đưa vào thực đơn hàng ngày của gia đình. Tuy nhiên, cần cảnh giác với những loại chả cá mua ngoài chợ, vì đây có thể là những loại chả được làm từ cá ươn. 
Cảnh giác với những loại chả cá mua người chợ. 
Cảnh giác với những loại chả cá mua người chợ.
Cá là một loại thực phẩm nhiều chất đạm và giàu dinh dưỡng. Từ cá người ta có thể chế biến thành nhiều loại món ăn, trong đó có chả cá. Chả cá được chế biến từ nguyên liệu cá tươi như cá thu, cá basa, cá mối… bỏ thêm một ít phụ gia rồi được chiên dưới dầu mỡ, nhưng chả cá có nhiều loại, không phải loại nào cũng được làm từ cá tươi.

Theo Bác sỹ Lê Kim Huệ, Trung tâm Dinh dưỡng TP.HCM, cá đã bị ươn, thiu sẽ sinh ra rất nhiều loại vi khuẩn, các loại ký sinh trùng và thậm chí sinh ra chất histamin làm cho người sử dụng nễu dễ bị dị ứng khi ăn loại cá đó vào sẽ bị ngộ độc. Đồng thời khi làm chả cá người ta thường chiên với dầu, mỡ ở nhiệt độ cao thì dầu đó dễ bị ôxy hóa và sinh ra những chất độc hại cho cơ thể.

Trẻ em và người lớn đều có thể ăn được chả cá, nhưng chúng ta nên ăn những loại thực phẩm đảm bảo về mặt dinh dưỡng, đảm bảo về mặt an toàn thực phẩm. Vậy nên ăn và chế biến như thế nào?

Tốt nhất chúng ta nên mua cá tươi rồi về nhà tự chế biến. Chúng ta không nên lựa chọn những loại chả cá bày bán ngoài chợ hoặc những nơi chế biến không tin cậy.

Vì chạy theo lợi nhuận nên không ít người bán hàng bỏ mặc sự an nguy của người tiêu dùng. Chúng ta hãy tự trang bị cho mình những kiến thức nhất định để lựa chọn những thực phẩm tươi sống, đảm bảo vệ sinh, hạn chế sử dụng đồ chế biến sẵn vì đây là loại thực phẩm ẩn chứa nhiều nguy cơ, tác hại đối với sức khỏe.

CHỮA BỆNH ĐƠN GIẢN BẰNG VITAMIN


Bạn hay cáu giận, hãy ăn thịt bò, mắt cá chân sưng hãy ăn một quả chuối... Đó là cách đơn giản chữa bệnh bằng bổ sung những vitamin cần thiết. Những vấn đề về sức khỏe, có thể do bạn đang thiếu hụt các vitamin hoặc khoáng chất. 
2013/8/vitamin-B2.jpeg 
Loét miệng: Thiếu Vitamin B2

Loét miệng có thể do thiếu vitamin B2 – vitamin cần thiết cho sản xuất và tăng trưởng tế bào. Vitamin B2 giúp vùng da và các tế bào niêm mạc xung quanh miệng được phục hồi một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, mệt mỏi và chứng đau nửa đầu cũng có thể là triệu chứng thiếu B2.

Không có cảm giác mùi vị: Thiếu kẽm
Thiếu kẽm ảnh hưởng đến cảm giác về hương vị. Trong nghiên cứu của trường Đại học Ulster liên quan đến 387 người, những người có mức kẽm thấp trong hồng cầu ít có khả năng phát hiện mùi vị mặn. Bởi kẽm cần thiết cho việc sản xuất các enzyme giúp phát triển và duy trì vị giác. Các dấu hiệu thiếu hụt kẽm khác bao gồm thường xuyên bị nhiễm trùng như cảm lạnh và cúm, chậm lành vết thương. Khoáng chất có vai trò quan trọng trong hoạt động của hệ miễn dịch và phục hồi các tế bào. Thanh thiếu niên có nguy cơ cao thiếu kẽm với khoảng 1/5 trẻ gái và 1/10 trẻ trai. Thịt bò và thịt cừu là một trong những nguồn tốt nhất của kẽm. Các nguồn khác bao gồm các loại hạt, đặc biệt là hạt điều và lạc.

Dễ bị viêm nhiễm: Thiếu vitamin A
Phụ nữ ít có khả năng thiếu vitamin A hơn bởi họ có xu hướng ăn nhiều cà rốt và rau xanh có chứa vitamin A. Các dấu hiệu thiếu vitamin A như dễ bị nhiễm khuẩn đường hô hấp và đường ruột. Thiếu hụt vitamin A được bổ sung bằng cách ăn một củ cà rốt mỗi ngày hoặc gan (2 tuần/lần là đủ). Phụ nữ mang thai không nên ăn gan bởi quá nhiều vitamin A có thể gây hại cho thai nhi. 

Cáu gắt: Thiếu sắt 
Da xanh xao là dấu hiệu thường thấy do thiếu sắt. Nhưng hay cáu kỉnh (cùng với mệt mỏi) là một triệu chứng do thiếu sắt, bởi giảm lượng oxy đến não. Sắt là một thành phần quan trọng của tế bào hồng cầu, có vai trò tiếp nhận oxy và vận chuyển nó đến khắp cơ thể. Phụ nữ trong giai đoạn kinh nguyệt có nguy cơ cao bị thiếu sắt. Có khoảng 30% thiếu nữ và 17% phụ nữ bị thiếu sắt. Thịt đỏ, các loại hạt, rau, thịt bò, trứng và cá mòi là nguồn giàu sắt. 

Sưng mắt cá chân: Thiếu kali 
Kali giúp điều chỉnh cân bằng nước của cơ thể. Lượng kali thấp là do chế độ ăn uống quá nhiều muối. Dữ liệu từ 3.300 người tham gia trong nghiên cứu tim ở Mỹ cho thấy lượng kali trong mẫu nước tiểu phản ánh chế độ ăn uống liên quan chặt chẽ đến huyết áp. Chuối chứa rất nhiều kali. 

Đau nhức: Thiếu vitamin D
Xương yếu là dấu hiệu của sự thiếu hụt nghiêm trọng vitamin D, nhưng đau, suy nhược và mệt mỏi có thể là sự thiếu hụt nhẹ. Mức vitamin D thấp xảy ra trên tất cả các nhóm tuổi. Vitamin D giúp điều hòa các chất khoáng canxi và phốt pho, quan trọng cho việc phát triển và duy trì xương và cơ bắp. Vitamin D không chỉ giữ xương khỏe mạnh, mà còn cần thiết đối với các hệ thống miễn dịch và chống lại bệnh ung thư. Bên cạnh bổ sung dầu cá, cá hồi, cá mòi tươi bạn nên dành 20 phút mỗi ngày tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. (Theo Antđ/Dailymail) 

THẢO DƯỢC CƯƠNG DƯƠNG CÓ THỂ GÂY RỐI LOẠN NHỊP TIM

Chúng ta thường nghĩ rằng dược thảo không độc, nhưng bản tin sau Reuter cảnh báo nên cẩn thận. Một thuốc thuộc lọai bổ sung dinh dưỡng tại Hoa-kỳ tên là ENZYTE, do công ty Vianda ở thành phố Cincinnati tiểu bang Ohio sản xuất, quảng cáo làm cho người dùng “cứng hơn, mạnh hơn và có cảm giác cương dương hòan tòan”.
Dâm dương hoắc

Công ty cũng bảo hơn 5 triệu đàn ông trên thế giới dùng thuốc này. Thành phần của enzyte gồm niacin, đồng, kẽm, sâm, bạch quả, cao dâm dương hoắc (horny goal weed tạm dịch là có sừng dê) và nhiều dược thảo khác, theo trang mạng của công ty.

Nhưng một nghiên cứu đăng trên báo Archive of Internal Medicine bảo sau khi cho đàn ông dùng chất bổ sung dinh dưỡng này, thấy kéo dài đọan QT trên điện tâm đồ.

Với những người có bệnh gọi là hội chứng QT kéo dài, có thể xảy ra ở 1 trong 2000 người, kéo dài đọan QT có thể đưa đến lọan nhịp tim nghiêm trọng và chết thình lình. Một bác sĩ ở đại học Loyola Chicago bảo Enzyte có vài tính chất của thuốc mạnh nhất bác sĩ kê đơn để điều hòa nhịp tim.

Với liều 1 viên, các nhà nghiên cứu thấy đọan QT tăng trung bình 8% hay 32 phần ngàn giây, 3 giờ sau khi uống thuốc. Sau 5 giờ tăng 11% hay 37 phần ngàn giây. Không bệnh nhân nào phát sinh lọan nhịp tim hay kéo dài cương dương, nhưng 4 người cảm thấy da bị phừng nóng.

Báo cáo chết đột ngột ở người dùng cisapride (thuốc trị lóet dạ dày Propulsid) và Terfenadine (thuốc chống dị ứng Seldane), cũng kéo dài đọan QT trung bình 13 và 17 phần ngàn giây theo thứ tự, khiến FDA phải cho thu hồi hai thuốc trên. Do đó, không nên dùng chất bổ sung dinh dưỡng này vì có thể bị nguy hiểm.

Cây dâm dương hoắc, tên La-tinh là Epimium sagittalum trong sách cây thuốc và động vật làm thuốc của nhà xuất bản Khoa-học, nhưng theo bách khoa tự điển Wikipedia thì có tên Epimium grandifolium.
Một trong những trang quảng cáo trên mạng bảo cây dâm dương hoắc chứa flavonoids (hợp chất thực vật có tính chống oxyt hóa) và phytoestrogen (estrogen thực vật). Một trong những phytoestrogen này là icariin, một chất ức chế phosphodiestera-5 (PDE5) giống như Viagara và những thuốc kê đơn chống lọan cương dương khác. Đó là lý do cây này được quảng cáo kích dục.

Theo Natural Medicine Comprehensive Database nhóm cây epimedium dùng để trị bất lực, xuất tinh ngòai ý muốn, yếu lưng và đầu gối, đau khớp, mệt mỏi tinh thần hay cơ thể, mất trí nhớ, cao huyết áp, bệnh động mạch vành, viêm phế quản, viêm gan mãn tính, bệnh tê liệt polio, thiếu bạch cầu mãn tính, viêm cơ tim do siêu vi, thuốc bổ và kích dục.

Cơ chế tác dụng của Epimedium ở phần lá. Các nhà nghiên cứu nghĩ rằng flavonoid, icariin và polysaccharid là họat chất chính. vài chứng cứ gợi ý epimedium có thể làm dãn mạch ngọai vi, tăng máu lưu thông qua động mạch vành, tăng kết tụ tiểu cầu và tăng cường họat động tình dục của phái nam.

Theo sách Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt-nam, dâm dương hoắc có tác dụng nội tiết sinh dục. Dâm dương hoắc dùng sống hay đã qua bào chế đối với chức năng sinh dục không giống nhau. Dâm dương hoắc qua bào chế thí nghiệm trên chuột nhắt trắng đực cho uống vào dạ dày với liều 15 g/Kg, dùng liên tục trong 10 ngày có tác dụng làm tăng lượng testosterone trong máu và tăng trọng lượng cơ nâng hậu môn, còn dâm dương hoắc dùng sống không có tác dụng nâng cao khả năng sinh dục, trái lại làm giảm lượng testosterone và trọng lượng cơ nâng hậu môn. Trong một nghiên cứu lâm sàng, nước sắc lá dâm dương hoắc dùng điều trị cho 14 bệnh nhân giảm bạch cầu có 3 người khỏi bệnh và 9 người có tiến bộ rõ rệt , lượng bạch cầu tăng từ 2440 ± 992/mm3 lên 4060 ± 966/mm3.

Dâm dương hoắc dùng trong đông y chửa liệt dương phối hợp với các dược liệu khác, chửa xuất tinh sớm, lưng gối mỏi đau, chân tay mỏi, đái dắt.

Chúng tôi cũng xin nhắc lại là các chất ức chế phosphodiesterase 5 có ái lực khác nhau với nhiều cơ phận của cơ thể. Những thuốc trị rối lọan cương dương như sildenafil (Viagara) có ái lực mạnh với cơ nhẵn bao quanh mạch máu bộ phận sinh dục nam, nhưng đôi khi còn có ái lực với vùng mắt, và có thể gây nguy hiểm cho thị giác người dùng. Tính chất PDE-5 của cây dâm dương hoắc có thể ngòai ái lực với cơ trơn mạch máu gây dãn mạch ở động mạch vành, hạ huyết áp và tác dụng kéo dài đọan QT là tính chất mới chưa có sách vở nào nói đến.

CÂY THUỐC LÀM MÁT DỊU

Ngưu tất - Achyranthes bidentata Blume, thuộc họ Rau dền - Amaranthaceae.

Ảnh minh họa
Mô tả: Cây thảo sống nhiều năm, cao 60-110cm. Rễ củ hình trụ dài. Thân có 4 cạnh, phình lên ở các đốt. Lá mọc đối, hình trái xoan bầu dục cỡ 15x5cm, nhọn hai đầu, mép lượn sóng, có lông thưa hay không lông; gân phụ 5-7 cặp; cuống ngắn 1-3cm. Cụm hoa hình bông mọc ở ngọn thân hoặc đầu cành; hoa ở nách những lá bắc. Quả bế hình bầu dục, chứa một hạt hình trụ.

Hoa tháng 5-9, quả tháng 10-11.

Bộ phận dùng: Rễ, củ - Radix Achyranthis Bidentatae, thường gọi là Ngưu tất.

Nơi sống và thu hái: Cây nhập, trồng được cả ở núi cao lẫn đồng bằng. Thu hái vào mùa đông xuân, phơi tái rồi ủ đến khi nhăn da (6-7 ngày), xông diêm sinh, sấy khô. Dùng sống hoặc tẩm rượu sao.

Thành phần hoá học: Rễ củ chứa saponin tritecpen, genin là acid oleanolic, các sterol ecdysteron, inokosteron.

Tính vị, tác dụng: Ngưu tất có vị đắng, chua mặn, tính bình; có tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, phá ứ huyết, tiêu ung độc.

Công dụng: Chống viêm, hạ cholesterol máu, hạ áp, gây co bóp tử cung Tuệ Tĩnh đã viết về Ngưu tất:

Ngưu tất cũng như rễ Cỏ xước

Tính bình, chua, đắng, khoẻ gân cốt

Chữa khớp, tê liệt, mạnh dương tinh

Điều huyết, tiểu thông, trừ cơn sốt.

Ngày nay Ngưu tất dùng chữa thấp khớp, đau lưng, bế kinh, kinh đau, huyết áp cao, bệnh tăng cholesterol máu, đái buốt ra máu, đẻ khó hoặc nhau thai không ra, sau đẻ ứ huyết, chấn thương tụ máu, viêm họng.

Ngày dùng 6-12g, sắc uống.

Dân gian cũng dùng Ngưu tất chữa sốt rét lâu ngày không khỏi.

Đơn thuốc:

1. Chữa bị thương tụ máu ở ngoài hay bị ngã máu ứ ở trong, hoặc sau mỗi khi đi xa hay lao động chân tay nhức mỏi: Ngưu tất 100g, Huyết giác 50g, Sâm đại hành 30g ngâm với 800ml rượu 35o-40o, thường lắc, sau 10 ngày dùng uống mỗi lần 15ml, ngày uống hai lần.

2. Chữa bốc nóng nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, mắt mờ, huyết áp cao, rối loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co giật, táo bón: Ngưu tất 30g, hạt Muồng sao 20g, sắc uống, mỗi ngày một thang.

CÚC GAI CHỮA VIÊM GAN,VÀNG DA

Cúc gai - Silybum marianum (L.) Gaerth., thuộc họ Cúc - Asteraceae.

Cúc gai
Mô tả: Cây thảo hai năm cao 30 đến 150cm, có thân thẳng và phân nhánh, có rễ trụ, to, dài và dày. Lá xanh, không có lá kèm, bóng loáng, thường có nhiều đốm trắng dọc theo các gân, mép có răng dạng gai mà gai lại có màu vàng và rất nhọn; các lá phía trên và ở giữa ôm lấy thân; các lá ở dưới rất to, có phiến chia thuỳ và có cuống.

Cụm hoa đầu đơn độc rộng 3-8cm. Lá bắc ngoài và giữa có một phần phụ hình tam giác màu lục thu lại thành một gai to, ở gốc có 4-6 gai nhỏ ngắn hơn ở mỗi bên. Hoa tía hơi giống nhau đều có 5 cánh hoa, 5 nhị và bầu một ô với 2 lá noãn và 2 vòi nhuỵ phình ở gốc. Quả bế màu đen bóng có viền vàng nhiều hay ít.
Ra hoa tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ hai.

Bộ phận dùng: Toàn cây hoặc quả - Herba seu Fructus Silybi.

Nơi sống và thu hái: Cây của vùng Địa trung hải, mọc hoang ở vùng Nam nước Pháp và gần như hoang dại ở phần Nam và Trung châu Âu, Bắc Phi châu, Trung và Đông Á châu đến Bắc và Nam Mỹ. Ta có nhập trồng, cây ưa đất tốt và mát. Thu hái cây và các cụm hoa rồi phơi khô, khi cần đập lấy quả.

Thành phần hoá học: Quả chứa glucid mà thành phần là glucose và pentose; có các vết của một tanin catechic, một chất màu, một chất đắng, một chất cay. Có tinh dầu, các chất histamin và tyramin; còn có một phytomelan. Các hoạt chất của quả là các flavon-lignan: silybin, silydianin silychristin; có khi người ta gọi silymarin, thì đó là hỗn hợp của các chất trên.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, tính hàn; toàn cây có tác dụng hạ nhiệt, cầm máu, trừ lỵ; quả làm tăng áp huyết, làm giảm các cơn đau suyễn và ho, đau gan.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Cây dùng chữa thũng ngứa và mụn nhọt sưng đau. Quả dùng trị viêm gan và lá lách, sỏi mật, hoàng đản, ho lâu năm.