Thứ Hai, 28 tháng 10, 2013

TRÀ BÁT BẢO-BỔ,MÁT,TIÊU ĐỘC

Trà bát bảo còn gọi là bát bảo lường xà (bát là tám, bảo hay bửu là quý, lường là đường và xà là chữ trà đọc chệch đi). Có người lại gọi là bát bảo lương trà (lương là lành, tốt). Đó là một loại nước uống đặc sản của người dân Hà Nội ở các phố cổ về mùa hè, thời tiết nóng nực. Thành phần của trà gồm lá tre 20g, để tươi; cành và lá kim ngân 5g; rễ cỏ tranh 5g; rễ ngưu tất 5g; ý dĩ 5g; thục địa 5g; cam thảo bắc 5g; mía 50g.

>>>Các bài thuốc hỗ trợ điều trị xuất huyết
>>>Rối loạn bài tiết mồ hôi,nên ăn gì?
>>>Cháo thuốc bổ dưỡng dành cho sĩ tử
Trà bát bảo
Liều lượng mỗi thứ có thể gia giảm, nhưng không nên nhiều quá làm nước nấu quá đặc. Có thể thay lá tre bằng rau má, rễ cỏ tranh bằng râu ngô, kim ngân bằng sài đất, ngưu tất bằng thổ phục linh, thục địa bằng huyền sâm hoặc hoàng tinh, cam thảo bắc bằng rễ hoặc cành lá cam thảo dây (hiện nay có xu hướng dùng cỏ ngọt vì có độ ngọt cao), ý dĩ bằng hoài sơn.

8 vị thuốc trong trà bát bảo có thể chia thành hai nhóm: nhóm những vị thuốc “mát” như lá tre, kim ngân, ngưu tất, cỏ tranh và nhóm những vị thuốc “bổ” như thục địa, ý dĩ, cam thảo, mía. Do đó, nước này có tác dụng bồi bổ, giải nhiệt, tiêu khát, lợi tiểu, giải độc, lại ngọt, thơm nên được coi là một loại nước giải khát rất tốt, nhất là với trường hợp “nhiệt”.

Những dược liệu trong trà bát bảo rất dễ kiếm trong thiên nhiên và ở các cửa hàng kinh doanh thuốc nam, thuốc bắc. Ta có thể tự pha chế trà bát bảo để sử dụng theo cách làm cụ thể như sau: Cho dược liệu đã thái nhỏ (liều lượng như đã nêu ở trên) vào nồi hoặc ấm nhôm, nấu với một lít nước đến sôi, rồi giữ âm ỉ trong 15-20 phút là được. Khi dùng, chắt lấy nước uống hay để nguội tùy sở thích của từng người. Dùng đến đâu, pha chế đến đó, không để trà lưu cữu qua ngày.

QUẾ-GIA VỊ RẤT TỐT CHO SỨC KHỎE

Quế là gia vị phổ biến ở nhiều nước. Không chỉ làm tăng hương thơm và vị ngon cho món ăn, quế còn mang lại nhiều lợi ích cho sức khoẻ: từ kiểm soát lượng đường máu cho tới ngăn chặn bệnh tim mạch, từ chống hôi miệng cho đến bổ não...

>>>Cà chua-Bạn tốt của da
>>>Những ai không được dùng nhân sâm
>>>Món ăn thuốc cho người sau phẫu thuật

Quế
1. Giảm lượng đường huyết

Các chuyên gia nói rằng, những bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường ăn quế sẽ giảm được lượng đường trong máu và điều trị được tiểu đường tuýp 2. Lý do là quế giúp cải thiện sự nhạy cảm của Insulin và điều chỉnh lượng đường trong máu về mức hợp lý. Mặt khác, khi cải thiện được sự kháng Insulin, nó giúp kiểm soát cân nặng, điều này cũng rất tốt cho bệnh nhân tiểu đường.

2. Tốt cho tim

Quế có thể tăng cường sức khoẻ hệ tim mạch nhờ khả năng bảo vệ cơ tim khỏi bị rối loạn. Các nhà khoa học cũng tin rằng, Canxi và chất xơ có trong quế là thành phần bảo vệ tim. Chỉ cần thêm một chút quế vào trong thực đơn cũng có thể giúp bạn tránh được bệnh ở động mạch vành và huyết áp cao.

3. Chống ung thư bạch cầu

Một công trình nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ cho thấy, ăn quế có thể giảm được sự phát triển của tế bào ung thư bạch cầu. Họ đã thử nghiệm ở hơn 100 người mắc bệnh ung thư bạch cầu và chia làm 2 nhóm, kết quả cho thấy, ở nhóm người được cho ăn quế, bệnh trạng đã cải thiện tốt hơn những người không ăn.

4. Chống sâu răng và hôi miệng

Từ xa xưa, quế đã được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới làm “kem đánh răng” nhằm giúp chống sâu răng và hôi miệng. Chỉ cần nhai một mẩu quế nhỏ cũng giúp cho bạn loại bỏ được nhiều vi khuẩn gây hôi miệng nhờ chất cay đồng thời tăng hơi thở thơm tho dễ chịu cho miệng.

5. Điều trị các vấn đề liên quan đến đường hô hấp

Quế rất hữu dụng cho điều trị cảm lạnh ngay tại nhà. Bạn chỉ cần lấy một muỗng mật ong trộn với một 1/2 muỗng quế bột và ăn, thực hiện trong 3 ngày. Cách này sẽ giúp bạn điều trị được các bệnh ho mãn tính, cảm lạnh và xoang.

6. Bổ não

Loại gia vị này cũng giúp tăng cường hoạt động của não như một chất bổ não. Nó giúp loại bỏ căng thẳng và mất trí nhớ. Các nghiên cứu cho thấy, mùi hương của quế có thể tăng cường chức năng nhận thức, giúp trí não tỉnh táo và tập trung khi làm việc. Đó là lý do tại sao mà nhiều bác sĩ khuyên bạn “thủ” ít quế trong túi để khi căng thẳng thì bỏ ra nhấm nháp.

7. Chống khuẩn

Nhờ khả năng chống khuẩn, chống nấm, chống vi rút và ký sinh trùng nên quế có thể giúp bạn chống viêm nhiễm ngoài da và bên trong cơ thể. Quế có khả năng chống viêm âm đạo, viêm loét dạ dày và chấy trên đầu theo cách đơn giản là bỏ thanh quế tươi hoặc bột quế rồi đun sôi để tắm hoặc rửa chỗ bị bệnh.

8. Làm dịu các triệu chứng liên quan đến chu kì kinh nguyệt

Khi chuẩn bị đến ngày “đèn đỏ”, bạn nên ăn một vài mẩu quế nhỏ. Nó rất hữu ích cho sức khỏe trong những ngày này như giảm chứng chuột rút và những bất tiện khác của phái đẹp.

KINH GIỚI-THUỐC QUÝ CHO MỌI NGƯỜI

Kinh giới vừa là rau gia vị vừa là cây thuốc dùng làm thuốc chữa bệnh thì lấy cả cây trừ rễ. Khi cây kinh giới bắt đầu nở hoa, nhổ cả cây, cắt bỏ rễ, đem phơi hoặc sấy khô.

>>>Cây mã đề làm thuốc
>>>Các bài thuốc từ ớt
>>>Lan tai cáo-Cây cảnh và cây thuốc

Kinh giới
Toàn kinh giới

Theo sách thuốc cổ, toàn kinh giới (dùng cành lá dài không quá 40cm tính từ ngọn) 12g phối hợp với sắn dây 24g, sắc uống chữa sốt nóng, nhức đầu, đau mình. Nước sắc toàn kinh giới uống nóng với nước ép măng tre và nước cốt gừng chữa trúng phong, cấm khẩu.

Theo kinh nghiệm dân gian, toàn kinh giới để tươi nấu nước uống và tắm hằng ngày để phòng chống rôm sẩy, mẩn ngứa, mụn nhọt.

Chữa cảm cúm, sốt, đau nhức: lấy toàn kinh giới 5g phối hợp với lá tía tô 3g, cam thảo đất 3g, sài hồ nam hoặc cúc tần 3g, kim ngân 4g, mạn kinh 2g, gừng 3 lát. Tất cả sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm một lần trong ngày; kết hợp lấy lá kinh giới tươi 50g, giã nát với gừng sống 10g, gói vào vải sạch, đánh dọc sống lưng. Hoặc toàn kinh giới, lá tre, cúc tần, bạc hà, tía tô, cát căn, mỗi thứ 20g; cúc hoa, địa liền, mỗi vị 5g; phơi khô, tán bột, rây mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g.

Chữa cảm hàn ở trẻ em: toàn kinh giới, tía tô, hoắc hung, ngải cứu, mã đề, gừng, mỗi thứ 3 – 4g, sắc nước uống trong ngày.

Chữa ban chẩn: toàn kinh giới, lá dâu, mỗi vị 6g; lá bạc hà, kim ngân, sài đất, mỗi vị 4g; sắc uống ngày một thang.

Chữa chóng mặt, hoa mắt, nghẹt mũi, mắt đỏ: toàn kinh giới, cúc hoa, xuyên khung, cam thảo, bạch chỉ, phòng phong, khương hoạt, hương phụ, tế tân, bạch cương tàm. Các vị lượng bằng nhau, tán nhỏ, rây thành bột mịn. Ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 4 – 6g với nước ấm, sau bữa ăn.

Chữa sưng vú, mụn nhọt. toàn kinh giới, thương nhĩ tử, vòi voi, liên kiều, mỗi thứ 12g; kim ngân hoa, cỏ mần trầu, hạ khô thảo, mỗi thứ 10g; bồ công anh 8g. Tất cả sắc uống làm 2 lần trong ngày.

Chữa ho, mất tiếng: toàn kinh giới, tang diệp, tang bạch bì, địa cốt bì, mỗi thứ 12g; tử tô, bán hạ chế, mỗi thứ 8g; trần bì 4g. Sắc uống ngày một thang.

THUỐC BỔ TỪ CỦ MÀI

Cây củ mài thuộc họ dây leo quấn, thân nhẵn, hơi có góc cạnh, màu đỏ hồng, thường mang những củ nhỏ ở nách lá (dái mài). Rễ củ đơn độc hoặc từng đôi, ăn sâu vào đất đến hàng mét, hơi phình ở phía gốc, vỏ ngoài có màu nâu xám, thịt mềm màu trắng. Lá mọc so le hay mọc đối, hình tim, cụm hoa đơn tính gồm các bông khúc khuỷu, màu vàng.

>>>Vị thuốc kỳ diệu:Củ tỏi
>>>Vị thuốc đa năng:Quả lựu
>>>Những lợi ich của trà thảo dược





Củ mài
Cây thường mọc hoang ở các vùng rừng núi phía Bắc và miền Trung. Nhân dân vùng núi thường đào củ mài về cạo sạch vỏ, luộc, xào hoặc nấu canh ăn. Củ mài được trồng nhiều ở đồng bằng để làm dược liệu. Đào củ vào mùa hè – thu khi cây đã lụi, mang về rửa sạch, gọt vỏ cho vào lò xông lưu huỳnh 2 ngày đêm, sau đó phơi sấy cho đến khô.

Trong Đông y, vị thuốc từ củ mài có tên là hoài sơn, vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ tỳ vị, ích tâm phế, bổ thận, chỉ tả lỵ. Thường dùng làm thuốc bổ ngũ tạng, mạnh gân xương, chữa suy nhược cơ thể, bệnh đường ruột, tiêu chảy, lỵ, tiêu khát; thận suy, mỏi lưng, chóng mặt, hoa mắt, ra mồ hôi trộm,… Dùng dưới dạng thuốc sắc uống hoặc tán bột uống. Thường dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số bài thuốc bổ thường dùng

-Cháo bổ tỳ: Củ mài 50g, khoai sọ 200g, gạo tẻ 50g, nấu cháo ăn trong ngày. Thường xuyên ăn món cháo này có tác dụng ích khí (tăng thể lực), bổ tỳ vị (tăng cường chức năng tiêu hóa), dùng chữa chứng đuối sức, mệt mỏi, kém ăn, miệng khát, hay phiền táo.

-Chữa suy nhược cơ thể sau viêm đại tràng, loét dạ dày – tá tràng, rối loạn tiêu hóa kéo dài: Củ mài 12g, bố chính sâm 16g, bạch truật 12g, biển đậu 12g, ý dĩ 12g, vỏ quýt 6g, hạt sen 12g, hạt cau 10g, nam mộc hương 6g. Sắc uống ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Dùng 7-10 ngày. Cây củ mài và vị thuốc hoài sơn.

Chữa chán ăn, khó tiêu do tỳ vị hư nhược

Củ mài 100g, khiếm thực 100g, xuyên tiêu 30g, gạo nếp 1.000g, đường trắng 30g. Gạo nếp ngâm một đêm, vo sạch, để khô, rang chín, tán bột. Củ mài, khiếm thực, xuyên tiêu đều sao qua, tán bột. Trộn đều hai thứ bột với nhau để sẵn. Mỗi lần ăn, lấy 30 – 60g pha với nước sôi và một ít đường trắng.

Thứ Bảy, 26 tháng 10, 2013

CÁC BÀI THUỐC HAY TỪ RAU MỌI

Rau mọi hay còn gọi là lộc mại, lục mại, mọi trắng, bọ nẹt. Là loại cây nhỏ, phân nhiều cành nhỏ, dễ gãy. Lá đơn, đa dạng, mọc so le, hình bầu dục hoặc hình mác thuôn dài, gốc tròn đầu nhọn, hai mặt nhẵn, mép có răng cưa, có hai hạch nhỏ ở chỗ tiếp giáp với phiến lá, lá kèm nhỏ, có lông. 

>>>Thuốc chữa chàm hiệu quả
>>>Những vị thuốc quý cho thai phụ
>>>Trúc đào:Dễ gây ngộ độc

Rau mọi
Lá non màu hồng đỏ. Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông đơn tính.

Cụm hoa đực mọc thành bông dài, thõng xuống, hoa có cuống, hoa cái nhỏ li ti mọc đơn độc hay thành từng đôi, bầu hình cầu, rất nhẵn. Quả ba mảnh vỏ, trên mặt có những gai nhỏ, ngắn. Cây mọc chồi và ra nhiều lá non từ cuối mùa xuân cho đến hết mùa hè. Mùa ra hoa quả tháng 5 - 8.

Cây thường mọc hoang ở khắp các vùng rừng núi, trung du và đồng bằng, mọc rải rác ở dưới chân đồi, ven nương rẫy, ven đường đi hoặc trên các nương rẫy cũ do đất cằn bỏ hoang lâu ngày. Để làm thuốc dân gian thường dùng lá thu hái quanh năm, dùng tươi hay phơi khô. Một số địa phương còn dùng lá non nấu canh ăn.

Theo Đông y, rau mọi có vị ngọt nhạt, tính bình, có tác dụng nhuận tràng (liều nhỏ), tẩy (liều lớn), tiêu độc, sát trùng.

Thứ Sáu, 25 tháng 10, 2013

THUỐC NAM CHO NGƯỜI CAO TUỔI

Vừng đen là vị thuốc quý cho người cao tuổi.

Đau nhức chân tay, nghẹn, nấc là các bệnh hay gặp của tuổi già. Những triệu chứng này có thể được xoa dịu bằng một số bài thuốc nam đơn giản mà công hiệu với rau má, vừng đen, lá quýt...


>>>Dâm bụt chữa bệnh tim
>>>Chữa bệnh xơ gan từ thuốc nam
>>>Quả dâu chữa bệnh

Hạt vừng đen
1. Thuốc mạnh gân xương, làm sáng mắt: Hồ dào nhân 160 g giã nhuyễn; đỗ trọng, phá cố chỉ, tỳ giải, mỗi thứ đều 160 g, phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn. Trộn đều các dược liệu, thêm mật ong làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên vào lúc đói với rượu hòa ít muối, hâm nóng.

2. Thuốc chữa đau nhức chân tay, mình mẩy: Trâu cổ (cành lá và quả, 1000 g), đậu đen 200 g, đường kính 150 g, rượu trắng 200ml. Trâu cổ thái nhỏ, nấu với nước, cô lại gần thành cao lỏng. Đậu đen nấu mềm, nghiền nát, lọc lấy nước, trộn với cao trâu cổ, cho đường và tiếp tục cô đến khi được cao lỏng. Đổ rượu trắng vào cao, khuấy đều. Ngày dùng 2-3 lần, mỗi lần 30ml trước bữa ăn và khi đi ngủ.

3. Thuốc chữa viêm khí quản mạn tính: Chim sẻ 2 con làm sạch lông, bỏ lòng, ruột và mật, cho 15-20 g đường phèn vào bụng chim, rồi hấp cách thủy. Ăn hết trong một ngày. Dùng liên tục 3-5 ngày.

4. Thuốc chữa nấc: Tai quả hồng 8 g, đinh hương 8 g, gừng sống 5 lát giã nhỏ, sắc với 200ml nước còn 50ml, uống làm 2 lần trong ngày. Có thể thêm trần bì 4 g, thanh bì 4 g hoặc bán hạ chế 2 g. Nếu cơ thể nhiệt, giảm bớt đinh hương và tăng thêm tai hồng; ngược lại cơ thể hàn lại cần nhiều đinh hương và ít tai hồng. Nhưng liều lượng của đinh hương cũng không được vượt quá 10 g.

5. Thuốc bổ: Rau má 500 g, lá dâu non 250 g, vừng đen 150 g, rễ ba kích 150 g, rễ ngưu tất 50 g, rễ hà thủ ô trắng 100 g, mật ong 250 g, đường 100 g. Các dược liệu phơi khô, tán nhỏ cùng với vừng đen, rây bột mịn, rồi trộn với đường và mật ong làm thành 100 viên. Ngày uống hai lần, mỗi lần 1-2 viên.

6. Thuốc chữa nghẹn: 

- Quả phật thủ 150 g - 200g thái mỏng, phơi khô, rồi cắt nhỏ, chưng cách thủy, lấy nước uống lúc còn ấm.

- Gừng 3 lát, vỏ quýt 40gam, thái nhỏ, sắc với 400ml nước còn 100ml. Trước khi ăn, nhấp uống dần dần. Thuốc còn có tác dụng khai vị.

- Hạt bóng nước 100 g phơi khô, tán nhỏ, rây bột mịn, trộn với mận làm viên bằng hạt đỗ xanh. Ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 8 viên với ít rượu hâm nóng.

TRỊ HO BẰNG VỊ THUỐC TẮC KÈ

Tắc kè (Gekko gekko L.), tên thuốc là cáp giới, một vị thuốc được YHCT sử dụng từ lâu để trị một số chứng bệnh thuộc hai tạng phế và thận. 

Theo YHCT, tắc kè có vị mặn, tính bình, hơi có độc, quy vào kinh phế, thận, với công năng bổ phế, bổ thận, định suyễn, trợ dương.

>>>Vị thuốc đa năng:Hành hoa
>>>Dâm dương hoắc trị " bệnh của đàn ông"
>>>Trúc đào:Dễ gây ngộ độc

Cách chế biến: Tắc kè lột bỏ hết phủ tạng, lấy bông tẩm cồn lau sạch máu, lấy 2 thanh tre nhỏ cài vào 4 bàn chân để cho thân tắc kè căng mỏng ra. Dùng một thanh nứa mảnh, dài, một đầu cắm vào dưới ức tắc kè, dọc theo bụng và đuôi, lấy một sợi dây cuốn chặt đuôi vào thanh nứa đó, đem phơi hoặc sấy khô. Tắc kè có nhiều chất bổ, nhất là phần đuôi, vì thê khi chế biến tắc kè cần bảo tồn đuôi.

Rượu tắc kè trị đau lưng
Tắc kè tán bột chữa ho 

Trị ho đờm, ho ra máu, hen suyễn: tắc kè cắt bỏ phần đầu, từ mắt trở lên và 4 bàn chân, cạo bỏ các vảy trắng bên ngoài thân, cắt miếng nhỏ, sao vàng, tán bột mịn, ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần 8 - 10g vào lúc đói. Uống liền nhiều ngày cho đến khi hết các triệu chứng.

Trị ho lâu ngày, phế khí thượng nghịch, khó thở, trong đờm có máu mủ, lồng ngực bứt rứt, cơ thể mệt mỏi: tắc kè 1 đôi, hạnh nhân, cam thảo mỗi vị 200g; nhân sâm, phục linh, bối mẫu, tang bạch bì, tri mẫu mỗi vị 80g. Hạnh nhân cắt bỏ đầu nhọn, bỏ vỏ sao hơi vàng; cam thảo, nhân sâm chích nước gừng; tang bạch bì chích mật ong; bối mẫu, tri mẫu sao vàng. Tất cả tán bột mịn, trộn đều, đóng vào lọ thủy tinh có nắp kín, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6 - 8g. Uống liền 3 - 4 tuần lễ, nghỉ 1 tuần có thể uống tiếp liệu trình nữa.

Trị ho, mặt và chân tay bị phù nề: tắc kè 1 đôi, nhân sâm 20g (hoặc đảng sâm 40g). Tắc kè bào chế như trên, nhân sâm hoặc đảng sâm chích gừng. Tất cả tán bột mịn, bảo quản trong lọ có nắp kín, ngày uống 1 - 2 lần, mỗi lần 4 - 6g, trước bữa ăn.

Thứ Năm, 24 tháng 10, 2013

TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Mùa đông, thời tiết lạnh kèm hanh khô khiến làm gia tăng bệnh viêm phế quản nhất là ở trẻ em và người già. Theo Đông y, viêm phế quản thuộc phạm vi của chứng khái thấu, đàm ẩm. Nguyên nhân là do ngoại cảm phong hàn, phong nhiệt và khí táo. Sau đây là một số bài thuốc chữa viêm phế quản theo từng thể bệnh:

>>>Chữa bệnh bằng thuốc nam
>>>Vị thuốc quý:Nấm kim châm
>>>Cây chàm mèo:Vị thuốc quý trong dân gian

Hạnh nhân
Thể phong hàn: gặp ở giai đoạn đầu của viêm phế quản cấp. Người bệnh có biểu hiện ho ra đờm loãng, trắng, dễ khạc, sốt, sợ lạnh, nhức đầu, chảy nước mũi, ngứa cổ, khàn tiếng, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù. Phép trị là tán hàn, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài thuốc sau:

Bài 1: tía tô 12g, lá hẹ 10g, trần bì 6g, kinh giới 10g, xuyên khung 6g, bạch chỉ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: (Hạnh tô tán): hạnh nhân 10g, tô diệp 10g, tiền hồ 10g, bán hạ chế 6g, chỉ xác 6g, gừng 3 lát, trần bì 4g, phục linh 6g, cam thảo 6g, cát cánh 8g, đại táo 4 quả. Tất cả tán bột uống ngày 15 - 20g chia làm 2 lần.

Bài 3: (Chỉ khái tán): hạnh nhân 12g, cát cánh 8g, tiền hồ 12g, tử uyển 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu lưỡi nhờn, rêu lưỡi trắng, gia: bán hạ chế 12g, trần bì 8g.

- Nếu hen suyễn bỏ cát cánh, thêm ma hoàng 6g.

Thể phong nhiệt: Gặp ở viêm phế quản cấp và đợt cấp của viêm phế quản mạn. Người bệnh có biểu hiện ho, khạc nhiều đờm màu vàng, trắng dính, họng khô đau, sốt, nhức đầu, sợ gió, rêu lưỡi mỏng vàng, mạch phù sác. Phép trị là sơ phong thanh nhiệt, tuyên phế (chữa ho trừ đờm). Dùng một trong các bài:

Bài 1: tang diệp 16g, rễ cây chanh 8g, rễ cây dâu 12g, bán hạ chế 6g, bạc hà 8g, cúc hoa 8g, rau má 12g, xạ can 4g, lá hẹ 8g, rễ chỉ thiên 8g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 2: (Tang hạnh thang gia giảm): tang diệp 12g, hạnh nhân 8g, tiền hồ 8g, chi tử 8g, bối mẫu 4g, sa sâm 8g, tang bạch bì 8g, cam thảo 6g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 3: (Tang cúc ẩm gia giảm): tang diệp 12g, cúc hoa 12g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử 12g, bạc hà 6g, cát cánh 8g, hạnh nhân 12g, tiền hồ 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

- Nếu đờm nhiều vàng dính kèm theo sốt, bỏ tang diệp, cúc hoa, bạc hà, ngưu bàng; gia hoàng cầm 12g, ngư tinh thảo 20 - 40g.

ĐÔNG Y CHỮA VIÊM HỌNG

Viêm họng là bệnh thường gặp có các biểu hiện họng sưng đau, lúc đầu có thể thấy ngứa họng, kèm theo sốt hoặc tiết nhiều đờm dãi. Nếu không chữa kịp thời, yết hầu nghẹn đau, ăn uống khó khăn, họng sưng đỏ, lưỡi gà đỏ, nuốt nước bọt cũng đau, lưỡi đỏ hoặc hồng nhợt.

Theo y học cổ truyền, viêm họng thuộc phạm vi chứng tý, tùy thuộc và mức độ và nguyên nhân có bài thuốc phù hợp.

>>>Tắc kè:Thuốc quý bổ thận
>>>Cam thảo và đời sống tình dục quý ông
>>>9 bài thuốc trị táo bón

Trong trường hợp nhẹ, giai đoạn đầu có thể áp dụng những bài thuốc sau:

Kim ngân hoa
Bài 1: Kinh giới 16g, bạc hà 8g, kim ngân 12g, cỏ nhọ nồi 8g, huyền sâm 12g, xạ can 4g, sinh địa 12g, tang bạch bì 8g. Tất cả cho vào ấm, đổ 800ml nước sắc còn 350ml nước, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

Bài 2: Quả dâu chín 20g, rửa sạch, nhẹ tay tránh nát, để ráo nước đem giã nát hoặc xay lấy nước, lấy nước ngậm rồi nuốt dần nhiều lần trong ngày.

Bài 3: Pha nước muối nhạt cho vào chai hoặc cốc to, vắt thêm 1 quả chanh, mỗi lần cho ra cốc đổ thêm chút nước ấm, ngậm nhiều lần trong ngày hoặc ngậm nuốt dần.

Bài 4: Thanh hao 25g, hương nhu 5g, ké đầu ngựa 10g. Sắc với 700ml nước, còn lại 300ml, chia 2-3 lần uống trước bữa ăn, dùng liền 5 ngày.

Bài 5: Hoa kinh giới 12g, cát cánh 12g, cam thảo 4g. Sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Bài 6: Quả quất 5 - 10 quả, rửa sạch ướp muối, nấu với 650ml nước, còn lại 300ml, uống thay nước chè trong ngày. Có thể đâm nát, chế nước sôi để nguội vào quấy đều để uống. Dùng liền 5 ngày.

Nếu viêm họng kèm theo ho có thể áp dụng bài thuốc sau: 

Bài 1: Hoàng tinh 30g, gạo thơm 100g, đường trắng vừa đủ. Hoàng tinh rửa sạch, cho nước nấu bỏ bã lọc lấy nước trong. Cho gạo thơm vo sạch vào, thêm nước nấu cháo loãng. Cháo chín cho đường vừa đủ. Ngày một bát chia ăn vài lần, 3 - 5 ngày một liệu trình.

Bài 2: Nước mía 100 -150g, gạo tẻ 50g. Gạo vo sạch, cho vào nồi 300ml nước nấu cháo loãng, sau đó cho nước mía vào, đun nhỏ lửa cho đến khi được cháo. Ăn ngày hai lần, ăn liền 5 ngày.

Ngoài ra, cần súc họng bằng nước muối ấm mỗi tối trước khi đi ngủ, sau khi đánh răng để sát khuẩn họng và miệng.

Thứ Ba, 1 tháng 10, 2013

VỊ THUỐC ĐA NĂNG-HÀNH HOA

Dân gian có câu "Trăm thứ canh không hành không ngon" đủ nói lên tầm quan trọng của củ hành ta (còn gọi hành hoa, hành hương) trong ẩm thực của người Việt. Hành là một gia vị không thể thiếu để chế biến thức ăn, làm món ăn thêm ngon miệng, hấp dẫn. Tuy nhiên, hành còn được coi là vị thuốc kháng sinh tự nhiên chữa bách bệnh.

Hành là vị thuốc kháng sinh chữa bách bệnh
Theo Đông y, hành hoa vị cay, tính bình, không độc, có khả năng giải cảm, hoạt huyết, dùng làm thuốc ra mồ hôi, lợi tiểu, sát khuẩn, chữa cảm sốt, nhức đầu, phù thũng, an thai, sáng mắt, lợi ngũ tạng. Hành còn kích thích thần kinh, làm tăng bàitiết dịch tiêu hóa, phòng ngừa ký sinh trùng đường ruột, trị tê thấp. Dùng ngoài chữa mưng mủ. Nước hành nhỏ mũi giúp chữa ngạt mũi cấp tính, mạn tính, viêm niêm mạc mũi. Sau đây là một số cách dùng hành hoa làm thuốc.

Chữa cảm sốt không ra mồ hôi, nhức đầu, ngạt mũi, sợ gió, nước tiểu trong

Củ hành tươi 30g, gừng tươi 10g, chè hương 10g, sắc uống nóng, đắp chăn cho vã mồ hôi.

Hoặc hành 10g, tía tô 10g, bạc hà 10g, kinh giới 10g, sả 10g, lá tre 10g. Tất cả cho vào nồi, đổ nước đun sôi kỹ để xông. Xông xong uống 1 bát nước lá rồi đắp chăn kín.

Hoặc vài chục cây hành cả rễ, cắt bớt lá xanh; 3 lát gừng; 1 nhúm gạo. Gạo vo sạch, hành gừng rửa sạch cho vào nồi nấu cháo, cháo chín cho ra bát, vắt thêm chanh vừa chua, ăn nóng xong đắp chăn kín.

Chữa cúm: cây hành hoa cả rễ 10 cây, 3 lát gừng. Tất cả cho vào nồi đổ nước sắc kỹ, pha đường uống khi còn nóng.

Chữa ho: hành hoa 60g, gừng tươi 10g. Tất cả cho vào nồi đun kỹ để xông miệng mũi, ngày 2 - 3 lần. Hoặc hành 5g ngâm mật ong qua đêm, lọc bỏ bã rồi pha một chút rượu uống. Cách 2 - 3 giờ uống một lần. Bài này chữa ho do cúm, do hút thuốc lá hay hen phế quản đều được.

Chữa khản tiếng: Ăn hành củ sống, giã hành bọc vải đắp lên cổ.

Chữa đau bụng, lạnh chân tay: Giã giập hành cả rễ và lá, để hành lên bụng, lăn chai nước nóng lên, khi hành nát lại thay hành khác. Khi vã mồ hôi, đun nước gừng khô uống nóng.

Chữa đau bụng giun: củ hành tươi 5g ép lấy nước, trộn với 5ml dấm uốnghết một lần.

Chữa tiêu chảy: hành củ 5g, quả táo tây 5g sắc nước uống.

Chữa đi tiểu ra máu: đun kỹ hành 5g, nghệ 5g uống lúc còn nóng, ngày 2 lần.

Chữa đại tiện, đầy hơi, tức thở: hành hoa 2 củ, gừng 1 lát, muối 1 thìa. Tất cả giã nhỏ, hơ nóng gói vào vải buộc vào rốn. Nếu nửa giờ chưa thông, thay liều khác.

DÂM DƯƠNG HOẮC TRỊ "BỆNH CỦA ĐÀN ÔNG"

Dâm dương hoắc còn gọi là dương hoắc, tiên linh tỳ..., là cành và lá đã phơi hay sấy khô của nhiều loài dâm dương hoắc. Dâm dương hoắc là một trong những vị thuốc bổ dương được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Từ lâu, trong các món tiềm thuốc bắc hay những món ăn bổ dương, các bài thuốc bổ, rượu bổ thường có sự hiện diện của dâm dương hoắc. Xin giới thiệu một số bài thuốc ấm thận tráng dương có dâm dương hoắc.

Dâm dương hoắc 
Dâm dương hoắc làm thuốc

Bài 1: Rượu dâm dương hoắc: dâm dương hoắc 1.000g, rượu trắng 10 lít. Ngâm trong 1 tháng. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20ml. Trị liệt dương, bán thân bất toại, thận dương suy kém, lưng đau, tiểu tiện không nhịn được.

Bài 2: Dâm dương hoắc tiên mao: dâm dương hoắc 100g, tiên mao 100g, ngũ gia bì 100g, long nhãn 100g, rượu trắng 2.000ml. Ngâm 15 - 20 ngày. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 20 - 30ml. Chữa liệt dương.

Bài 3: Rượu dương hoắc huyết đằng: dâm dương hoắc 30g, ba kích 30g, kê huyết đằng 30g, rượu 1.000ml, đường phèn 60g. Ngâm sau 7 ngày là dùng được. Dùng cho các trường hợp phong thấp đau nhức xương khớp, đau lưng, đau mỏi toàn thân.

Món ăn có dâm dương hoắc

Thịt dê hầm dâm dương hoắc: dâm dương hoắc 25g, thịt dê 200g. Thịt dê thái miếng, cho chút rượu vào, trộn đều; cùng lá dâm dương, thêm ít muối, hầm nhừ, thêm muối, gừng, hành, gia vị vừa ăn. Dùng cho các trường hợp nam giới thiểu năng dục tính, tinh trùng ít, hoạt lực kém, liệt dương di tinh.

Thận dê hầm dâm dương hoắc: dâm dương hoắc 15g, tiên mao 15g, tang thầm 15g, hoài sơn 15g, thỏ ty tử 15g, hoàng tinh 15g, thục địa 15g, sơn thù 12g, thận dê 2 quả. Sắc dược liệu lấy nước bỏ bã; thận dê rửa sạch, thái lát, hầm với nước dược liệu. Ăn cả nước lẫn cái, chia 2 - 3 lần trong ngày. Thuốc bổ thận.

Kiêng kỵ: Người mắc chứng liệt dương do thấp nhiệt, có âm hư hỏa vượng không được dùng.

Thứ Hai, 30 tháng 9, 2013

TRÚC ĐÀO-DỄ GÂY NGỘ ĐỘC

Trúc đào (Nerium indicum Mill.) thuộc họ trúc đào (Apocynaceae), có tên khác là đào lê, là cây hoa đẹp được trồng làm cảnh ở các vườn hoa công viên, đường sá, vườn nhà. Thời cổ xưa, người ta ngâm lá trúc đào với rượu để bôi ngoài chữa rắn cắn. Ở Việt Nam, dân một số vùng cũng dùng trúc đào để chữa ghẻ bằng cách giã lá đắp trực tiếp hoặc nấu nước đặc rửa nhưng rất nguy hiểm.

Trúc đào
Vì toàn cây trúc đào có nhựa đục rất đắng và độc, acid hydrocyanic và những glucosid độc là oleandrin, neriin, neriantin. Y học cổ xưa đã công nhận trúc đào rất độc. Bò, ngựa ăn phải một số lá trúc đào tươi đã bị ngộ độc. Người ăn thịt súc vật chết vì lá trúc đào cũng bị ngộ độc. Qua thử nghiệm người ta thấy rằng, người uống phải nước có lá trúc đào rơi vào hay nước ngâm rễ trúc đào sẽ bị trúng độc.

Vỏ và gỗ còn tươi của thân cành trúc đào độc hơn lá. Ở đảo Corse, Pháp, có trường hợp ngộ độc vì ăn chả nướng xiên bằng cành trúc đào và uống nước đựng trong chai nút bằng gỗ trúc đào. Hoa trúc đào tuy độ độc thấp hơn ở các bộ phận khác, nhưng rơi vào nước cũng làm nước nhiễm độc. Chất độc vẫn không bị phá hủy ở các bộ phận của cây trúc đào đã được đun sôi hoặc sấy khô. Người ta còn cho rằng, mật ong chứa mật hoa và hạt phấn hoa trúc đào cũng độc.

Những triệu chứng ngộ độc trúc đào biểu hiện ở trạng thái khó chịu, bải hoải chân tay, buồn nôn, chóng mặt (với liều nhỏ); tiêu chảy ra máu, rối loạn hô hấp, nôn mửa, chân tay co giật, loạn nhịp tim, mạch nhỏ yếu đi tới hôn mê và tử vong (với liều cao). Do đó, không trồng trúc đào ở cạnh nguồn nước như giếng, ao, bể nước; không buộc hoặc thả gia súc dưới gốc cây trúc đào, không để trẻ nhỏ nhặt chơi hoa trúc đào vì trẻ dễ cho hoa vào miệng; không dùng lá trúc đào chữa bệnh ngoài da dưới bất kỳ hình thức nào.

NHỮNG VỊ THUỐC QUÝ CHO THAI PHỤ

Trong kho tàng dược liệu quý giá của nước ta, nhiều vị thuốc có tác dụng rất tốt cho thai phụ, những dược liệu này được gọi là những thuốc an thai. Với mong muốn năm Nhâm Thìn có được những “rồng con” khỏe mạnh, xin giới thiệu một số vị thuốc quý thường dùng cho phụ nữ mang thai.

Sa nhân làm an thai trong trường hợp thai động không yên,ra máu
Trữ ma căn: Vị thuốc là rễ đã phơi hoặc sấy khô của cây gai, tên khoa học là Boehmeria nivea (L) Gaud, họ gai Urticaceae. Cây sống lâu năm, thuộc loại nửa bụi, có thể cao tới 1,5 - 2m, mọc khắp nơi trong nước, thường lấy sợi và lấy lá làm bánh. Rễ củ thu hái quanh năm nhưng tốt nhất vào mùa thu đông. Trữ ma căn vị đắng, tính hơi hàn, quy kinh phế, tỳ, can. Tác dụng thanh nhiệt giải độc, tán ứ, thông lâm, an thai. Dùng trong các trường hợp đơn độc, sang lở, đái buốt, đái dắt, phụ nữ có thai đau bụng, ra huyết, xích bạch đới, viêm cổ tử cung. Liều dùng 10 - 20g.

Tô ngạnh: là cành đã phơi hay sấy khô của cây tử tô có tên khoa học là Perilla frutescens (L) Britt, họ Hoa môi Lamiaceae, là loại rau thơm phổ biến. Tô ngạnh vị cay, tính ôn, vào hai kinh phế, tỳ. Tác dụng thuận khí, an thai. Dùng trong trường hợp khí nghịch lên gây đau bụng, động thai. Liều dùng 6 -12g.

Bạch truật: Vị thuốc là rễ cây bạch truật, tên khoa học Astractyloides macrocephala, Koidz, họ cúc Asteraceae. Cây mọc lâu năm cao khoảng 70 - 80cm. Rễ phát triển thành củ to và mầm. Rễ cây thu hái vào mùa đông khi lá ngả vàng. Cây được di thực về trồng ở một số nơi kể cả vùng núi và đồng bằng. Thuốc có vị ngọt, đắng, quy kinh tỳ, vị. Tác dụng kiện tỳ vị, tiêu thực, lợi thủy, ráo thấp, cố biểu, liễm hãn, an thai, chỉ huyết. Trường hợp động thai, ra huyết có thể dùng bạch truật. Liều dùng 6 -12g.

Tục đoạn: dùng rễ của cây tục đoạn, tên khoa học là Dipsacus japonicus, Mig, họ tục đoạn Dipsacaceae. Là loại cây thảo, cao chừng 1,5 - 2m, rễ củ không phân nhánh, thân đứng có khía dọc, có gai thưa. Vị thuốc còn có tên tiếp cốt thảo. Cây có ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, nhất là ở Sa Pa (Lào Cai). Tục đoạn có vị đắng, tính hơi hàn, quy hai kinh can, thận. Tác dụng bổ can thận, mạnh gân cốt, thông điều huyết mạch, chỉ thống, trị phong thấp, chấn thương, xương khớp sưng đau, an thai, chỉ huyết. Dùng tốt trong các trường hợp động thai, đau bụng, ra huyết. Liều dùng 6 -12g

Tang ký sinh: là toàn thân của cây tầm gửi cây dâu, tên khoa học Loranthus parasiticus (L), Merr, họ tầm gửi Loranthaceae. Thuốc có vị đắng, tính bình, vào hai kinh can, thận. Tác dụng trừ phong thấp, kiện cân, cường cốt, hạ huyết áp, dưỡng huyết, an thai. Dùng cho thai phụ huyết hư dẫn đến động thai, ra huyết. Liều dùng 8 -12g.

Sa nhân: Vị thuốc là hạt của cây sa nhân Amomum (wall ex Bak) vilosum, Lour.Var Xanthioides A, Longiligulare T.L Wu, họ Gừng Zingiberaceae. Cây thảo sống lâu năm, cao chừng 1,5m, phổ biến ở phía Bắc và Bắc Trung Bộ. Quả được thu hái vào tháng 8 dương lịch. Thuốc có vị cay, tính ấm, quy vào kinh tỳ, thận, vị. Tác dụng lý khí hóa thấp, trừ thấp, giảm đau. Làm an thai trong trường hợp thai động không yên, ra máu. Liều dùng 2 - 4g.

Ngải diệp: là lá của cây ngải cứu tên khoa học Artemisia vulgaris L. Họ cúc Asteraceae. Loại cây thảo, dùng làm rau ăn. Thành phần hóa học chủ yếu là tinh dầu. Ngải diệp vị đắng, cay, tính ấm, quy kinh can, vị. Tác dụng điều hòa khí huyết, ôn kinh, tán hàn, giải cảm, giảm đau, an thần, kiện vị, an thai. Liều dùng 6 -12g.

Đỗ trọng: Vị thuốc là vỏ phơi hay sấy khô của cây đỗ trọng, tên khoa học Eucommia ulmoides olive. Là loại cây gỗ cao 10-20m, được di thực về Việt Nam nhưng chưa nhiều. Trên thị trường chủ yếu là nhập từ Trung Quốc. Đỗ trọng vị cay, tính ấm, quy kinh can, thận. Tác dụng bổ can thận, mạnh cân cốt, bình can, hạ áp, dưỡng huyết, an thai. Dùng trong trường hợp thai động, ra huyết. Liều dùng 8 - 16g.

A giao: là cao da lừa. Thành phần hóa học chứa collagen, khi thủy phân cho các amino acid, ngoài ra có chất vô cơ. A giao vị ngọt, tính bình vào 3 kinh phế, can, thận. Tác dụng tư âm, dưỡng huyết, nhuận phế, chỉ huyết, an thai. Dùng cho phụ nữ rong huyết, có thai ra huyết, đau bụng hoặc sau sảy thai vẫn rong huyết. Liều dùng 6 -12g.

Ban long: còn gọi làlộc giác giao là chế phẩm cao được bào chế từ gạc hươu, nai. Thành phần hoạt chất chủ yếu gồm gelatine, các acid amin, calci phosphat, calcicarbonat, các chất nội tiết kích thích sinh trưởng. Ban long vị ngọt, tính ấm, quy kinh can, tỳ, thận là thuốc ôn bổ hạ nguyên, bồi bổ dương đạo, sinh tinh tủy, mạnh gân cốt, bổ huyết, chỉ huyết, điều hòa chức năng nội tiết, thuốc có tác dụng an thai, cầm máu. Ngày dùng 10g ăn với cháo nóng, hoặc ngâm rượu uống.

Thứ Hai, 9 tháng 9, 2013

THUỐC CHỮA CHÀM HIỆU QUẢ

Trong bệnh chàm, thương tổn lúc đầu xuất hiện trên da màu đỏ hồng. Trên nền da đỏ, xuất hiện những mụn nước nhỏ li ti như rôm, mụn nước giập vỡ chảy nước vàng, sau vài ngày dịch khô thành một lớp vảy, vảy bong để lại lớp da đỏ hồng. Bệnh tái diễn thành từng đợt. Tại vùng tổn thương rất ngứa. Đông y chia bệnh thành hai thể: cấp tính và mạn tính. Tùy thể bệnh mà dùng bài thuốc thích hợp.

Ảnh minh họa
Điều trị chàm cấp tính

Thể thấp nhiệt: Da hồng đỏ, ngứa, nóng rát, có mụn nước, loét chảy nước vàng.

Bài 1: Nhân trần 20g; thổ phục linh, kim ngân, mỗi vị 16g; khổ sâm, hoàng bá nam, hạ khô thảo, ké đầu ngựa, mỗi vị 12g; hoạt thạch 8g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Sinh địa, kim ngân hoa, hoạt thạch, mỗi vị 2g; đạm trúc diệp 16g; hoàng cầm, hoàng bá, phục linh bì, khổ sâm, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 3: Nhân trần 20g, trạch tả 16g, hậu phác, phục linh, trư linh, mỗi vị 12g; trần bì 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 4: Sinh địa, mã đề, mỗi vị 16g; ngưu bàng tử, hoàng liên, mộc thông, khổ sâm, hoàng bá, mỗi vị 12g; phục linh, thương truật, mỗi vị 8g; bạc hà 4g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 5: Gỉ sắt 4mg, rượu 50ml. Tán gỉ sắt, ngâm rượu 2 ngày. Rửa sạch chỗ chàm bôi thuốc (kết quả tác dụng tốt đối với chàm trẻ em).


Thể phong nhiệt: Da hơi đỏ, có mụn nước, phát triển toàn thân, ngứa gãi chảy nước, ít loét.

Bài 1: Thạch cao 20g; sinh địa 16g; kinh giới, phòng phong, ngưu bàng tử, khổ sâm, mộc thông mỗi vị 12g; tri mẫu 8g; thuyền thoái 6g. Sắc uống ngày một thang.

Bài 2: Trạch tả, sinh địa, mỗi vị 12g; long đởm thảo, hoàng cầm, chi tử, mộc thông, mã đề, sài hồ mỗi vị 8g; thuyền thoái 6g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.


Xác lột ve sầu cho vị thuốc thuyền thoái.

Điều trị chàm mạn tính

Biểu hiện: Da dày thô, khô, ngứa, nổi cục có mụn nước, hay gặp ở mặt, cổ chân, cổ tay, khuỷu tay, đầu gối.

Bài 1: Thuốc mỡ: hoàng liên, hồng hoa, hồng đơn chu sa, mỗi vị 4g. Tán bột, hòa với mỡ trăn, bôi vào chỗ chàm.


Bài 2: Thuốc rửa: lá vối tươi, lá kinh giới mỗi vị 100g. Đun sôi rửa vết loét, sau dùng thuốc mỡ nêu trên bôi.


Bài 3: Thục địa, sinh địa, kinh giới mỗi vị 16g; đương quy, bạch thược, thương truật, phòng phong mỗi vị 12g; khổ sâm, thuyền thoái, bạch tật lê mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 4: Hoàng bá, hy thiêm, ké đầu ngựa, phù bình mỗi vị 12g; thương truật, phòng phong mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.


Bài 5: Hoàng liên 8g, bạch thược 4g, hoàng cầm 2g. Các vị trên được tán bột khô, sắc với nước rồi lọc và thêm vào nước sắc một lòng đỏ trứng, trộn kỹ, chia uống làm 3 lần mỗi ngày nước sắc ấm.


Chàm bìu: Có 2 thể, cấp và mạn tính


Bài thuốc: hoàng cầm, sinh địa, xa tiền tử, trạch tả, mộc thông, khổ sâm mỗi vị 12g; long đởm thảo, son chi mỗi vị 8g.


Bệnh cấp tính dùng dạng thuốc sắc, mỗi ngày sắc uống một thang. Bệnh mạn tính dùng dạng thuốc hoàn, các vị được tán bột, làm hoàn, mỗi ngày uống 20g.

HOA MẪU ĐƠN CHỮA NHIỀU BỆNH

Trong Đông y thường thu hoạch những cây mẫu đơn đã trồng được 3-5 năm. Dùng vỏ rễ phơi hay sấy khô để làm dược liệu bào chế thành thuốc nên có tên thuốc là mẫu đơn bì.

Mẫu đơn có tác dụng chống co thắt cơ trơn,chống viêm,chống thấp khớp...
Các kết quả nghiên cứu về dược lý ở mẫu đơn bì cho thấy chứa hoạt chất paeoniflorin có tác dụng chống co thắt cơ trơn, chống viêm, chống thấp khớp, an thần, hạ sốt, giảm đau, chống loét dạ dày, chống dị ứng và chống co giật. Thuốc này còn có tác dụng gây giãn mạch vành và mạch ở cơ chân, gây hạ huyết áp, ức chế sự ngưng tập tiểu cầu, ức chế sự đông máu rải rác trong mạch và bảo vệ gan chống tác dụng độc hại gan của hóa chất trong thực nghiệm trên động vật.

Trong y học cổ truyền Việt Nam, mẫu đơn bì được dùng làm thuốc trấn kinh, giảm đau, chữa nóng âm ỉ kéo dài, sốt về chiều và đêm, không có mồ hôi, hoặc đơn sưng, huyết ứ phát sốt, nhức đầu, đau lưng, đau khớp, đau kinh, kinh nguyệt không đều và bệnh phụ khoa sau khi đẻ. Ngày dùng 6 - 12g, dạng thuốc sắc.

Để tham khảo và áp dụng, dưới đây xin giới thiệu những phương tiêu biểu chữa trị có hiệu quả.
Chữa di tinh, suy nhược thần kinh, nhức đầu, mất ngủ: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g; sơn thù, hoài sơn mỗi vị 12g; trạch tả, phục linh, phụ tử chế mỗi vị 8g; nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

- Chữa hen phế quản khi hết cơn hen: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù 8g, phục linh 8g, trạch tả 8g. Sắc uống ngày một thang, hoặc làm hoàn uống mỗi ngày 20g.

- Chữa viêm khớp cấp: mẫu đơn bì 10g, huyền sâm 20g; tiền hồ 12g, hoàng cầm 12g, tri mẫu 12g, kỷ tử 12g, sinh địa 12g, mạch môn 12g, thạch hộc 12g, thăng ma 8g; đậu khấu 6g, xạ can 6g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa tăng huyết áp: mẫu đơn bì 8g, thục địa 16g, hoài sơn 12g; sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, đương quy 8g, bạch thược 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 - 3 lần.


Mẫu đơn bì

- Chữa đau nhức do máu kém lưu thông, gây thiếu máu: mẫu đơn bì 100g, đương quy 1.000g; hoài sơn, ngọc trúc, hà thủ ô đỏ, đan sâm mỗi vị 200g; bạch linh, mạch môn, trạch tả mỗi vị 100g; thanh bì, chỉ thực, thù nhục mỗi vị 50g. Tán bột làm hoàn mỗi viên nặng 5g. Ngày uống 4 - 6g.

- Chữa viêm loét dạ dày - tá tràng: mẫu đơn bì 8g, bạch thược 12g; thanh bì 8g, chi tử 8g, bối mẫu 8g, trạch tả 8g, hoàng liên 8g, trần bì 6g, ngô thù 4g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa viêm gan siêu vi khuẩn cấp tính: mẫu đơn bì 16g, nhân trần 40g, sinh địa 24g, chi tử 16g; hoàng liên 12g, đan sâm 12g, huyền sâm 12g, thăng ma 12g, thạch hộc 12g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa xơ gan cổ trướng: mẫu đơn bì 8g, rễ cỏ tranh 20g; thục địa 12g, hoài sơn 12g, bạch truật 12g, địa cốt bì 12g; sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, đương quy 8g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa suy nhược thần kinh: mẫu đơn bì 8g; kỷ tử 12g, thục địa 12g, hoài sơn 12g, câu đằng 12g, sa sâm 12g, mạch môn 12g; cúc hoa 8g, sơn thù 8g, trạch tả 8g, phục linh 8g, táo nhân 8g, bá tử nhân 8g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa đái tháo đường: mẫu đơn bì 12g; thục địa 20g, hoài sơn 20g, kỷ tử 12g, thạch hộc 12g; sơn thù 8g, thiên hoa phấn 8g, sa sâm 8g. Sắc uống ngày một thang, chia 2.

- Chữa viêm tắc động mạch: mẫu đơn bì 12g; cam thảo 20g, đương quy 20g, kim ngân hoa 16g, xích thược 16g, qua lâu nhân 16g, ngưu tất 16g; huyền sâm 12g, đào nhân 12g, đan sâm 12g; binh lang 8g, chỉ xác 8g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

- Chữa đau bụng kinh: mẫu đơn bì, đào nhân, hồng hoa, huyền hồ sách, hương phụ, mỗi vị 8g, mộc hương 6g, cam thảo 4g. Sắc uống trong ngày.

- Chữa rong huyết: mẫu đơn bì 12g, hoa cây cỏ nến (bồ hoàng) sao đen 20g; địa du, a giao, huyết dụ, bạch thược, sinh địa mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

- Chữa đơn độc sưng tấy, sưng vú, viêm tinh hoàn: mẫu đơn bì, đơn đỏ, huyết giác, cam thảo dây, đơn châu chấu, chó đẻ răng cưa, huyền sâm, mạch môn, ngưu tất, mộc thông, hoàng đằng, chi tử mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang chia 2 lần.

CHỮA CHÓNG MẶT,Ù TAI VỚI HẠT Ý DĨ

Hoa mắt chóng mặt theo y học hiện đại là một triệu chứng của nhiều bệnh khác nhau trong đó hay gặp là tăng huyết áp, hội chứng rối loạn tiền đình, thiếu máu, xơ cứng động mạch não...

Hạt ý dĩ
Theo y học cổ truyền hiện tượng hoa mắt chóng mặt đột ngột - mặt mày xây xẩm là "huyễn vựng". "Huyễn" có nghĩa là hoa mắt, trước mắt tối sầm, không nhìn thấy gì; "vựng" là choáng váng, có cảm giác mọi vật quay cuồng, mất thăng bằng không thể đứng vững. Hoa mắt và chóng mặt hay xuất hiện đồng thời, cho nên Đông y gọi chung là "huyễn vựng".

Có nhiều cách chữa chứng bệnh hoa mắt chóng mặt, trong phạm vi bài viết này, xin giới thiệu để bạn đọc có thể tham khảo ứng dụng một số cách chữa đơn giản có tác dụng hỗ trợ nhằm cải thiện tình hình trên.

Với biểu hiện chủ yếu của thể bệnh này là: Thỉnh thoảng bỗng nhiên bị hoa mắt, chóng mặt, kèm theo tai ù, có tiếng như ve kêu, buồn nôn ... Mỗi khi tình cảm biến động mạnh, hoặc tinh thần căng thẳng, thì bệnh phát nặng hơn. Thường ngày hay đau đầu, thỉnh thoảng mặt đỏ bừng từng cơn, bồn chồn, dễ cáu giận, ngủ ít, mộng nhiều, miệng đắng hoặc chua, ngực sườn đầy trướng, nóng rét qua lại, lưỡi không rêu, mạch huyền (căng như dây đàn). Có thể sử dụng bài thuốc, để chữa:

Hạ khô thảo

Bài 1: Hạ khô thảo 20g, thịt lợn nạc 50g, mắm muối và gia vị lượng thích lượng. Thịt lợn nạc thái lát mỏng, cho vào nồi cùng với hạ khô thảo, thêm lượng nước thích hợp, nấu nhỏ lửa tới khi thịt chín nhừ, thêm mắm muối và gia vị, dùng làm thức ăn trong bữa trưa. Dùng liên tục 7-8 ngày.

Bài 2: Đẳng sâm 20g, bạch truật 10g, xuyên khung 5g, bán hạ chế (tẩm nước gừng, sao vàng) 10g, hương phụ (củ gấu) 15g, sài hồ 12g, kinh giới 10g, câu đằng 10g, chi tử (dành dành) 10g, cam thảo 5g. Sắc với 1500 ml nước, đun cạn còn 600ml, chia thành 3 phần uống trong ngày vào lúc đói bụng. Liên tục 7-8 ngày (một liệu trình), nghỉ 3 ngày, lại tiếp tục liệu trình khác.

Với biểu hiện bỗng nhiên hoa mắt chóng mặt, ngực ngột ngạt, lợm giọng, nôn mửa, tai ù. Thường ngày thấy đầu nặng, tinh thần thiếu tỉnh táo, người uể oải, ngại cử động, chân tay tê - trướng - đau, ăn kém, ngủ nhiều, chất lưỡu bệu ở rìa có vết răng, rêu lưỡi cáu bẩn, mạch hoạt (trơn). Có thể sử dụng bài thuốc, hoặc món ăn - bài thuốc sau:

QUẢ DÂU CHỮA BỆNH

Quả dâu (còn gọi là quả dâu ta) khi chín màu đỏ đậm hoặc tím đen. Quả dâu giàu chất dinh dưỡng, ăn mềm, chua ngọt, nhiều nước, có thể ăn tươi, ngâm rượu, làm nước giải khát, làm mứt, làm vị thuốc... đều tốt, được mọi người ưa chuộng. Toàn bộ cây dâu đều là những vị thuốc, trong đó quả dâu đã được sách vở từ đời Đường thừa nhận có công hiệu bổ can thận, dưỡng huyết, trừ phong, tiêu khát, lợi ngũ tạng, khớp xương, thông huyết khí... Sau đây là một số cách chữa bệnh từ quả dâu.

Dâu giàu chất dinh dưỡng,ăn mềm,chua ngọt...
Bổ can thận, ích tâm huyết, thính tai, sáng mắt, đen râu tóc, lợi xương khớp - Rượu tang thầm (Tang thầm tửu). Trong Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân: Quả dâu chín tươi 5.000g, gạo nếp 6.000g, men rượu vừa đủ. Quả dâu phải chín đều, ép lấy nước, đun sôi để nguội cho cùng cơm nếp, men rượu trộn đều cho vào bình ngâm. Ngày uống mỗi lần 30-50ml vào hai bữa cơm hàng ngày. Các tài liệu về đông y về sau nói nếu ngâm rượu dâu, nên thêm mật ong rượu sẽ ngon bổ hơn.

Cao dưỡng huyết chữa tóc khô bạc: (Trung y mỹ dung) quả dâu tươi chín 50g, đường phèn vừa đủ. Quả dâu rửa sạch cho vào nồi đất, nước vừa đủ sắc lấy nước hoà đường phèn để uống. Có thể uống thường xuyên, nhất là về mùa hè. Cách này thông dụng trong nhân dân. Do không có đường phèn họ đã dùng đường hoa mơ hoặc đường trắng.

Tóc khô gẫy, rụng, chóng bạc: Quả dâu chín 100g, rượu 1/2 lít ngâm 3 ngày. Uống vào bữa cơm. Mỗi lần 20ml.

Quả dâu chín, sinh địa, mỗi thứ 30g, đường trắng 15g. Giã nát sắc uống, chia 10 lần.

Chống lão hoá: Nhức mỏi cơ xương khớp đau lưng gối, hoa mắt, ù tai, chóng mặt, táo bón, kém ăn, yếu sức, đoản hơi, tóc râu khô bạc, rụng, hay quên, lú lẫn. Sách cổ gọi quả dâu là quả trường thọ.

Cháo quả dâu chín: quả dâu chín 40g, gạo 50g, đường phèn vừa đủ. Nấu cháo lỏng ăn buổi sáng (chưa ăn gì, bụng đói) rất tốt đối với người già, yếu, ốm dậy.

Bánh mè quả dâu chín: Quả dâu 30g, vừng đen 60, bột nếp 700g, bột gạo tẻ, hạt đay 10g, đường trắng 30g. Làm bánh hấp chín.

Ích thận điền tinh: Chỉ định tình dục quá độ thân khí hư hao, tinh trùng yếu gây vô sinh, xuất tinh yếu, thờ ơ tình dục, lưng gối nhức mỏi: nhau thai 1 bộ, quả dâu, phúc bồn tử, câu kỷ tử, ngũ vị tử, thổ tỳ tử mỗi vị 10g. Nhau thai làm sạch thái miếng cho cùng các vị thuốc nấu với nước vừa đủ, lúc đầu lửa nhỏ cho sôi sau hạ lửa 2 giờ, cho gia vị, ăn cách 1-2 ngày một lần, 10-15 lần trong 1 tháng.

Bổ thận âm hư: Với chứng trạng như bài trên lưng đau gối mỏi, ù tai, vô sinh do chất lượng tinh trùng kém. Câu kỷ tử 50g, sơn dược 50g, quả dâu 30g, gạo tẻ 50g nấu cháo ăn liền 1 tháng vào các buổi sáng.

Bổ thận ích tinh: Chữa thận tinh hư nhược, tinh dịch ít, tinh trùng hoạt động yếu gây vô sinh nam, ù tai, lưng gối mỏi. Đậu đen 500g, các vị sau mỗi vị 10g: quả dâu, ngũ vị tử, câu kỷ tử, thỏ ti tử, thục địa, sơn thù, phục linh, đương quy, bổ cốt chỉ, hạn liên thảo, vừng đen, địa cốt bì. Đậu đen ngâm nước. Cho các vị thuốc vào nước đun sôi, cứ nửa giờ chắt nước ra cho nước mới vào 4 lần gộp lại nấu với thuốc và đậu đen cho cạn, đậu đen phơi khô cho vào lọ. Dùng trong 1 tháng.

Mất ngủ cấp tính: Quả dâu chín tươi 60g (khô 30g) sắc uống 2 lần/ngày vào chiều tối.

Mất ngủ kinh niên: Quả dâu chín 15g, thục địa 15g, bạch thược 15g sắc uống.

Hồi hộp, tim đập nhanh, đau tức ngực: Quả dâu chín 30g, ngân nhĩ 20g, ô mai 3g. Sắc kỹ uống ngày 2 lần.

Ho lâu ngày do phế hư: Quả dâu chín 150g, lá dâu 100g, vừng đen 100g, thêm 500g đường, cô thành cao lỏng. Uống ngày 3 lần. Mỗi lần 15g (1 thìa con).

Chảy nước mắt sống (nước mắt tự nhiên chảy ra): Quả dâu chín 20g, cà chua một quả. Đem nghiền nát. Ăn hết một lần. Ngay 1-2 lần. Đồng thời lấy lá dâu già chưa rụng nấu lấy nước rửa mắt hàng ngày.

Ăn không tiêu, trướng bụng, óc ách, tức thở: Quả dâu chín 10g, bạch truật 6g, sắc uống.

Bệnh mạch vành: Quả dâu chín 30g, câu kỷ tử 30g, gạo dính 15g. Nấu uống ngày 2 lần.

Đái tháo đường do can thận âm suy: Quả dâu chín 30g, thiên hoa phấn 20g, sinh địa 15g. Sắc uống.

Viêm gan mạn, ung thư gan: Quả dâu chín tươi 500g, bột củ ấu 50g, mật ong 30ml. Ép dâu lấy nước cô đặc, trộn bột củ ấu và mật ong nấu chín. Dùng điều trị hỗ trợ ung thư gan bị huyết hư, miệng lưỡi khô, thần kinh suy nhược mất ngủ, táo bón.

CHỮA BỆNH XƠ GAN TỪ THUỐC NAM

Bệnh cổ trướng trong y học cổ truyền tức là bệnh xơ gan của y học hiện đại. Xơ gan là do các tổ chức ở gan: tổ chức mô gan, tổ chức liên kết, hệ thống mật quản, tĩnh mạch… mỗi bộ phận này bị tổn thương ảnh hưởng đến toàn bộ tổ chức gan dẫn đến xơ gan bằng hai quá trình: viêm và thoái hóa nhu mô gan và xơ hoá tổ chức liên kết. Căn cứ vào quá trình diễn biến, tình hình nhẹ nặng và đặc điểm lâm sàng, Đông y có các bài thuốc điều trị theo từng thời kỳ:

Rau má
Thời kỳ đầu: Biểu hiện bụng to, đầy hơi, mắt vàng, gan bàn tay nóng, ăn kém, hay nôn oẹ, có sốt nhẹ, lưỡi nhờn, mạch huyền hoạt. Phép chữa: sơ can kiện tỳ, tiêu tích (làm cho gan thư thái, tỳ vị mạnh và tiêu tức là điều hoà gan và tỳ vị).

Rau má

Dùng Toa căn bản gồm: rau má 20g, lá mơ 16g, cỏ mần trầu 12g, ké đầu ngựa 12g, cỏ mực 12g, củ sả 20g, cam thảo đất 12g, rễ cỏ gianh 16g, vỏ quýt 12g, gừng tươi 12g. Đổ 1 lít nước sắc lấy 400ml chia làm 3 lần uống khi đói và khi đi ngủ.

Nếu táo bón, thêm lá muồng trâu 16g. Nếu đại tiện lỏng, thêm hoài sơn 16g, biển đậu 16g.

Thời kỳ phúc thuỷ (bụng có nước): Biểu hiện bụng càng ngày càng to hơn, mặt vàng và khô, cơ thể gầy mòn, mỏi mệt, hay ngủ, mặt hốc hác, cầu mắt lõm xuống, xương má gồ lên, đái ít, lưỡi đỏ hoặc có rêu vàng, mạch nhu hoãn hoặc trầm tế huyền sác, dùng bài thuốc sau, uống kèm với toa căn bản. Dùng bài thuốc: hắc sửu (bìm bìm) sao 40g, mộc hương 20g, thanh bì (sao) 16g, bình lang 16g, trần bì (sao) 16g, chỉ thực (sao) 16g, la bạc tử (sao) 20g, rễ cỏ gianh 20g. Các vị sao xong hợp lại sấy (phơi) khô, nghiền thành bột nhỏ mịn, đựng vào lọ kín, mỗi lần dùng 12g chiêu với nước chín, ngày 2 lần uống kết hợp uống thuốc sắc toa căn bản.

Sau 6 giờ sáng và 2 giờ chiều, uống toa căn bản. 9 giờ sáng và 6 giờ chiều, uống thuốc hoàn. Nếu thấy bệnh nhân cơ thể suy yếu, có thể cho uống thêm bài thuốc bổ sau: Củ mài (hoài sơn) 20g, củ sả 16g, rễ vú bò (sao vàng) 16g, rau má 20g, bố chính sâm (tẩm nước gừng sao) 20g, ý dĩ (tẩm nước gừng sao) 20g, rễ đinh lăng nhỏ lá (tẩm nước gừng sao) 20g. Đổ 600ml nước sắc lấy 300ml chia 2 lần uống.

Thời kỳ sau (bệnh nặng): Biểu hiện bụng to, gân xanh nổi lên, mặt xanh bợt hoặc đen sạm, gầy còm chỉ thũng, sau khi ăn đầy tức không chịu nổi, chân răng chảy máu, đại tiểu tiện bất thường, buồn phiền không yên, quá hơn nữa sẽ toát mồ hôi rồi chuyển vào giật quyết lạnh và hôn mê dẫn đến tử vong. Thời kỳ này phải kết hợp điều trị bằng phương pháp y học hiện đại.

DÂM BỤT CHỮA BỆNH TIM

Những hợp chất hoá học được chiết xuất từ cây Dâm bụt sẽ giúp kiểm soát lượng cholesterol trong máu, do đó ngăn ngừa được bệnh tim.

Dâm bụt
Các nhà khoa học Trung Quốc tuyên bố cây Dâm bụt có tác dụng tốt cho tim người giống như Rượu vang đỏ và Trà. Nó chứa các chất chống oxy hoá có tác dụng kiểm soát lượng cholesterol và giảm nguy cơ bị bệnh tim.

Dâm bụt đã được sử dụng trong y học dân gian để chữa cao huyết áp và rối loạn gan. Nó cũng được sử dụng làm nước uống phổ biến tại nhiều nước trên thế giới. Các nhà khoa học đã thí nghiệm tác dụng của chất chiết xuất từ cây Dâm bụt trên cơ thể chuột. Họ nhận thấy khi được tiêm chất chiết xuất, lượng cholesterol trong máu chuột đã giảm đáng kể.

“Các thử nghiệm trước đây chứng tỏ rằng những hợp chất được chiết xuất từ Rượu vang đỏ và Trà làm giảm sự đông tụ lipit trong động mạch của chuột”, Chau - Jong Wang, chuyên gia tại Đại học Y khoa Chung Shan, Trung Quốc nói : “Đây là nghiên cứu đầu tiên chứng minh rằng Dâm bụt cũng có tác dụng tương tự và có thể dùng để ngăn ngừa bệnh tim”.

Dâm bụt ( còn gọi là cây Bông bụp - tiếng miền Nam) là loại cây nhỡ, cao từ 1 đến 2m, lá đơn, mọc cách, phiến lá khía răng cưa. Hoa to, màu đỏ hồng, cũng có loại màu trắng hồng, màu vàng, hoa thường mọc ở nách lá hay đầu cành. Cây Dâm bụt mọc hoang ở nhiều vùng nước ta và được trồng làm cây cảnh. Cây Dâm bụt còn cho lá, hoa, rễ làm thuốc.

Theo Đông y: Lá Dâm bụt vị nhạt, nhớt, tính bình, có tác dụng làm dịu, an thần, tẩy nhẹ, nhuận tràng, chữa viêm niêm mạc dạ dày, ruột, đại tiện ra máu, kiết lỵ, mụn nhọt, ghẻ lở, mộng tinh, đới hạ; hoa Dâm bụt vị ngọt, tính bình có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu, tiêu thũng, sát trùng, chữa kinh nguyệt không đều, khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ; vỏ rễ Dâm bụt vị ngọt, tính bình, có tác dụng điều kinh, chống ho tiêu viêm, chữa viêm tuyến mang tai, viêm kết mạc, viêm khí quản, viêm đường tiết niệu, viêm cổ tử cung, bạch đới, kinh nguyệt không đều, mất kinh.

Một số bài thuốc chữa bệnh bằng Dâm bụt

Khó ngủ, hồi hộp, đái đỏ: Hoa Dâm bụt hãm với nước nóng, uống thay nước chè.

Bạch đới, mộng tinh, đái buốt, đi lỵ: Lá, hoa Dâm bụt, lá Bấn, lá Thài lài tía, mỗi thứ một nắm, giã nhỏ, chế nước sôi, vắt lấy nước uống.

Mụn nhọt sưng tấy: Lá và hoa Dâm bụt giã nát, đắp.

Quai bị, đau mắt: Lá Dâm bụt và lá Dành dành, mỗi thứ 1 nắm, giã nhỏ, vắt lấy nước uống, bã đắp.

Viêm tuyến mang tai: Lá Dâm bụt 30g, sắc uống ngày 1 thang, chia làm 3 lần; bên ngoài dùng hoa Dâm bụt (20g) giã nát đắp chỗ đau.

Viêm kết mạc cấp: Rễ Dâm bụt 30g, sắc uống 3 lần trong ngày.

Kinh nguyệt không đều: Vỏ rễ Dâm bụt 30g, lá Huyết dụ 25g, Ngải cứu 10g, sắc uống ngày 1 thang, chia 3 lần. Cần uống 3 ngày liền, trước kỳ kinh 7 ngày.

Chữa di tinh: Hoa Dâm bụt 10g, hạt Sen 30g, sắc uống ngày một thang, chia 3 lần, uống liên tục trong10 ngày.

Mất ngủ: Lá Dâm bụt 15g, hoa Nhài 12g, sắc uống về buổi chiều, uống liên tục trong 5 ngày.

Các nhà khoa học còn cho biết tác dụng chữa bệnh của hoa Dâm bụt được nâng cao hơn nữa nếu kết hợp với Rượu vang đỏ và Chè để làm giảm lượng cholesterol và lipit trong máu. Như vậy, Dâm bụt vừa là cây cảnh đẹp, vừa là cây thuốc quý, là nguồn gen quý của nước ta.

NỮ HOÀNG VITAMIN-HOA KIM TRÂM

Loài hoa này không chỉ trang điểm cho các phòng khách sang trọng mà còn là vị thuốc quý chữa bệnh về đường tiết niệu, chảy máu cam, động thai… Hoa Kim trâm cũng là thứ “rau” cao cấp, rất giàu vitamin.

Hoa kim trâm
Trong Y Dược học hiện đại, Kim trâm là nguồn nguyên liệu tốt để bào chế tân dược. Loại hoa này chứa nhiều chất có lợi cho sức khoẻ như protein, chất béo, nitơ tự do, đường khử, tinh bột… Nó là nguồn vitamin A, thiamin và vitamin C dồi dào.

Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Cây Kim trâm dài chừng một thước, hình như cái trâm vàng nên gọi như thế”. Nó còn có tên là Hoa hiên, Huyên thảo, Rau huyên, Hoàng hoa, Kim trâm thái… Giống cây này ưa khí hậu nhiệt đới núi cao, quanh năm ẩm mát. Ở Việt Nam, Kim trâm mọc hoang dã tại Tây Nguyên và miền núi phía Bắc.

Từ lâu, Kim trâm đã được sử dụng như một vị thuốc dân gian có nhiều công hiệu. Lá và hoa làm thuốc chữa đổ máu cam, an thai, lợi tiểu, trừ thấp nhiệt, làm yên ngũ tạng, khỏi bốc nóng, giúp ăn ngon, ngủ yên, sáng mắt… Rễ cây vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt, lợi thuỷ, lương huyết, chỉ huyết, được dùng làm thuốc lợi tiểu, giảm đau, chữa sốt, lỵ, nôn ra máu, đại tiện ra máu, sỏi tiết niệu. Rễ cây cũng có tác dụng chữa ho ra máu, viêm gan, vàng da, viêm tuyến mang tai, viêm tai giữa, đau răng. Lá và rễ giã đắp có thể trị sưng vú.

Nước sắc hoa Kim trâm có thể làm tăng tiểu cầu, hồng cầu nhưng không ảnh hưởng đến số lượng và công thức bạch cầu nên có tác dụng bổ máu. Hơn thế nữa, thứ nước sắc này có tác dụng đối kháng với dicoumarin (chất kéo dài thời gian đông máu), làm giảm rõ rệt thời gian đông máu, tránh mất máu nhiều cho người bệnh.

Tuy nhiên, không nên lạm dụng Kim trâm vì với liều quá cao nó có thể gây ngộ độc với biểu hiện: không kiềm được tiểu tiện, giãn đồng tử, ức chế hô hấp… Các bài thuốc dân gian thường chỉ dùng vị thuốc này với liều lượng xấp xỉ 30g/ngày.

Ngoài tác dụng làm thuốc, Kim trâm cũng là một món ăn ngon dành cho dân sành điệu. Cách chế biến thông dụng nhất là nấu canh. Gần đây, các đầu bếp đã nghĩ ra các món như xào thập cẩm, băm lẫn với thịt nạc hay hấp cách thuỷ cùng tim, cật lợn. Dù làm cách nào, Kim trâm vẫn giữ được vị ngon, ngọt rất đặc trưng của mình.

Vài năm gần đây, nông dân một số vùng như Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Sa Pa (Lào Cai), Đà Lạt (Lâm Đồng)… thử trồng Kim trâm để làm cảnh và cung cấp cho địa phương làm thức ăn. Hoa Kim trâm rất ít được “xuống núi” nhưng mỗi khi xuất hiện ở Hà Nội, nó đều được bán với giá rất cao.

VỊ THUỐC ĐA NĂNG-QUẢ LỰU

Ở Việt Nam, cây lựu được trồng nhiều để lấy quả ăn, làm thuốc và làm cảnh. Cả cây lựu đều làm thuốc chữa bệnh. Từ xưa quả lựu được ca tụng về cả 2 phương diện dinh dưỡng và trị liệu. Thành phần hóa học: dịch quả chứa acid citric, ac.malie, các đường glucoza, fructoza, mantoza…Vỏ quả và vỏ rễ chứa nhiều tanin, granatin, hoạt chất peletierin, izopeletierin, ac.betulic, ac.usolic và iso quercetin. Nước ép lựu là nguồn kali, vitamin C và các chất chống ôxy hoá quý. Theo Đông y vỏ quả vị chua, chát, tính ấm, chỉ tả, chỉ huyết, khử trùng. Vỏ thân, vỏ rễ vị đắng chát, tính ấm, sát trùng. Vỏ thân rễ dùng tẩy sán.

Lựu có nhiều tác dụng
Một số cách dùng quả lựu chữa bệnh

- Lao phổi, viêm phế quản mạn tính ở người già: quả lựu tươi chưa chín 1 quả, bóc lấy hạt ăn vào buổi tối trước khi đi ngủ.

- Trẻ em có tích trệ ăn không tiêu, có ký sinh trùng đường ruột dùng nước ép hạt lựu thêm đường và nước cho uống. Tuy hiệu quả kém nhưng an toàn hơn vỏ rễ lựu.

- Phòng chữa cam tích ở trẻ em (thực tích, thực trệ, tiêu chảy…): lấy quả lựu muối nấu cháo cho trẻ ăn.
Quả lựu muối làm như sau: hái quả lựu chín tốt nhất là những quả chín nứt vỏ, cho vào thố (vại, lọ…), rắc muối, đậy kín đem phơi nắng, mỗi ngày trở vài lần. Một thời gian vỏ lựu mềm, nước từ trong quả lựu thoát ra ngoài hoà lẫn nước muối. Tiếp tục làm như vậy cho đến khi khô nước thì lấy lựu ra cất vào hũ. Cất càng lâu công hiệu càng cao.

- Thanh thử, giải nhiệt, ngừa ra nhiều mồ hôi vào mùa hè - nấu canh cho một số hạt lựu tươi. Canh này còn phòng chữa chứng đau đầu ở phụ nữ và giúp trẻ em tiêu hoá tốt.

- Thực tích (do ăn nhiều thịt) khó tiêu, trĩ và ra máu, phụ nữ bạch đới, kinh nguyệt quá nhiều: dùng quả lựu muối nấu với canh thịt heo ăn.

- Viêm loét trong miệng: lựu tươi 1-2 quả, lấy hạt giã nát, ngâm vào nước sôi rồi lọc lấy nước để nguội ngậm nhiều lần trong ngày.

- Tiêu hoá kém, đau bụng, tiêu chảy: lựu 2-3 quả bỏ vỏ lấy cùi với một bát rưỡi nước sắc lấy nửa bát rồi đổ vào một ít mật ong, uống làm 2-3 lần trong ngày.

- Đại tiện ra máu, tiêu chảy kéo dài: ruột quả lựu sấy khô, tán bột. Mỗi lần 10-12g với nước cơm. Hoặc 1 quả lựu tươi nguyên vỏ giã nát sắc với mấy hạt muối để uống.

- Sâu răng: vỏ thân cây lựu hoặc vỏ quả sắc đặc ngậm nghiêng về phía răng sâu.

- Khô miệng, viêm họng, loét lưỡi: bóc lấy hạt của 1-2 quả lựu tươi nhai chậm kỹ nuốt nước.

- Trĩ loét chảy máu: vỏ quả lựu 50 - 100g sắc lấy nước xông rửa hậu môn.

- Nước ngâm rửa khi bị đới hạ, khí hư: vỏ quả lựu 30g, phèn chua 10g sắc lấy nước ngâm rửa.

- Ghẻ ngứa: vỏ quả lựu sắc để ngâm, tán bôi lên chỗ tổn thương - có thể ngâm vào rượu hoặc cồn để dùng hoặc lá lựu tươi giã nhuyễn xoa xát.

Kiêng kỵ: - Lựu và bưởi chùm có tương tác với một số thuốc dùng trong điều trị tăng huyết áp (nitatin). Do đó nếu dùng phải thận trọng và cần tham khảo ý kiến thầy thuốc chuyên khoa.

- Không dùng lựu cùng củ cải.

VỊ THUỐC KÌ DIỆU_CỦ TỎI

Theo Đông y tỏi có vị cay, tính ôn, hơi độc, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, sát khuẩn; chữa khí hư, tiểu tiện khó, bụng trướng đầy, tiêu nhọt, đờm và hạch ở phổi, tẩy uế.

Tỏi có tác dụng thanh nhiệt,giải độc...
Tỏi giúp phục hồi alycin, một hợp chất tự nhiên trong cơ thể có tác dụng chống ung thư, giảm cholesterol, giảm huyết áp, có khả năng giết 60 loại nấm độc, đồng thời làm phát triển 20 loại vi khuẩn có ích đối với phụ nữ mãn kinh. Mỗi ngày ăn 1-2 nhánh tỏi rất tốt cho sức khỏe.

Tỏi hỗ trợ trị nhiều bệnh.

Một số bài thuốc kinh nghiệm có sử dụng tỏi

Dự phòng cảm mạo, cảm cúm: Giã tỏi vắt lấy nước cốt, pha thêm nước sôi để nguội, tỷ lệ bằng nhau. Dùng dịch tỏi này nhỏ mũi.

Trị cảm lạnh, ho, viêm họng, sổ mũi, ho hen: Giã tỏi nát xoa ngực cho nóng lên. Ngày làm 2-3 lần.

Chữa viêm mũi dị ứng, viêm xoang: Giã tỏi vắt lấy nước cốt trộn với dầu vừng (hoặc mật ong) nửa nọ, nửa kia, rửa mũi bằng nước muối, lau sạch, lấy bông thấm thuốc nhét vào mũi.

Chữa chảy máu cam: Giã 2-3 tép tỏi đắp vào gan bàn chân, tại huyệt dũng tuyền (ở lòng bàn chân, từ ngón chân giữa kéo thẳng xuống bằng 3 ngón tay 2,3,4 khép kín, chỗ lõm giữa 2 mô cao dày của dưới ngón chân cái và ngón chân út). Nếu chảy máu cam lỗ mũi phải thì đắp gan bàn chân trái và ngược lại... Nếu chảy cả 2 lỗ mũi thì đắp cả 2 gan bàn chân. Hết chảy máu thì bỏ tỏi rửa sạch bàn chân.

Trị ho lâu ngày, viêm khí quản mạn: Dùng 500g tỏi bóc vỏ, cho 50g muối để muối tỏi. Sau 3 ngày lấy ra hong khô, ngâm với giấm ăn, cho một ít đường, ngâm 2-3 ngày thì ăn được. Sáng sớm và tối trước khi đi ngủ ăn 1-2 tép tỏi và uống một ít giấm tỏi. Ăn 15 ngày nghỉ 3 ngày lại ăn tiếp sẽ khỏi bệnh.

Chữa lỵ, đi ngoài (phúc tả ): Dùng 5 củ tỏi to bóc vỏ, củ cải 20g. Nước vừa đủ sắc uống hàng ngày.

Huyệt dũng tuyền.

Hỗ trợ trị bệnh tim mạch: Tỏi làm giảm độ kết dính của tiểu cầu nên tránh được các cục máu đông gây tắc mạch máu, bệnh mạch vành và xơ vữa động mạch, nhờ làm giảm nồng độ cholesterol xấu (LDL) và làm tăng nồng độ cholesterol tốt (HDL)

Hỗ trợ chữa tiểu đường: Tỏi làm giảm đường trong máu và làm tăng sự bài tiết insulin - nội tiết tố điều hòa lượng đường trong cơ thể...

Chữa viêm khớp, đau khớp: Tỏi và lá lốt đun sôi để xông. Sau đó ngâm khớp tay chân đau. Nếu đau lưng, đầu gối thì lấy khăn nhúng nước thuốc nóng để chườm. Ngày làm 2 lần sáng và tối.

Chữa chứng tiểu tiện khó ở người già: Lấy 1 củ tỏi, bỏ vỏ, giã nhỏ rồi đắp vào rốn (thấy nóng quá thì bỏ ra).

Chữa sưng vú: Lấy 50-100g tỏi giã nhỏ trộn với bột mì, đường đỏ, trộn đều với nước ấm đắp nơi sưng.

Chống rụng tóc: Rụng tóc từng đám hay từng mảng đầu thì dùng tỏi bóc sạch vỏ nghiền nhuyễn được một chất dịch như cháo, đắp chất lỏng này lên chỗ tóc rụng, để 2 giờ, sau đó gội đầu thật sạch bằng xà phòng tắm hoặc nước gội đầu. Mỗi ngày làm 1 lần, liên tục trong 7-10 ngày. Nghỉ 10 ngày lại làm tiếp đợt 2 .

Để làm tóc mọc tốt và đầu sạch gàu, mỗi tuần làm 1 lần, trước khi gội đầu 2 giờ, đắp tỏi nghiền nát, hoặc nước tỏi ép lên da đầu. Nếu tóc khô thì trộn nước tỏi với bất kỳ loại dầu thực vật nào, tỷ lệ bằng nhau. Còn tóc nhờn thì không cần dầu. Làm liên tục 2-3 tháng có kết quả tốt.

NHỮNG LỢI ÍCH CỦA TRÀ THẢO DƯỢC

Uống trà là thói quen của rất nhiều người Việt Nam, đặc biệt là trà thảo dược. Mỗi loại trà đều có một mùi thơm đặc trưng khác nhau mang lại cho người uống một cảm giác và hương vị tuyệt vời. Vậy việc uống trà sẽ có những lợi ích gì ?

Trà thảo dược phòng chống bệnh ung thư
1. Trà thảo dược giúp cho quá trình trao đổi chất được tăng cường. Giảm cân là một vấn đề của rất nhiều người, một trong những nguyên ngân gây nên béo phì là do các chất trong cơ thể không được chuyển hóa tốt. Trà sẽ giúp cho cơ thể bạn trao đổi chất tốt hơn, vì vậy bạn chỉ cần uống mỗi ngày 5 tách trà thì có thể đốt cháy 70-80 calo. Nếu dùng thường xuyên trong 1 năm bạn có thể giảm được 4kg.

2. Trà thảo dược giúp chống oxi hóa. Khi môi trường sống hiện nay ngày càng ô nhiễm thì cơ thể bạn sẽ bị tàn phá nhiều hơn đặc biệt là người già. Những tinh chất tuyệt vời có trong trà sẽ như là một lớp sơn bảo vệ cho những đồ đạc, giúp ngăn chăn quá trình oxy hóa.

3. Trà thảo dược không có calo. Nếu như trước kia con người còn thiếu cái ăn cái uống thì ngày nay việc ăn uống của chúng ta đã được nâng cấp lên rất nhiều. Điều đó cũng dẫn đến việc dư thừa calo trong cơ thể, vì vậy trà cũng là thức uống được nhiều người lựa chọn do trong trà không chứa calo. Bạn có thể giảm 0,5kg mỗi tuần nếu uống trà.

4. Caffein trong trà thảo dược có ít hơn trong cà phê. Trong khi trà chỉ chứa 30 – 40 mg mỗi tách thì một tách cà phê chứa khoảng 135 mg caffeine. Bên cạnh đó khi uống cà phê bạn sẽ có cảm giác đau đầu, bồn chồn, hó tiêu hay khó ngủ thì hãy đổi sang uống trà thảo dược.

5. Trà thảo dược phòng chống bệnh ung thư. Trong khi người ta vẫn còn nghiên cứu tổng thể chưa đưa ra kết luận thì có đủ những nghiên cứu cho thấy những hiệu quả tiềm năng của việc uống trà khiến chúng ta cần đưa trà vào danh sách những thức uống cần uống hàng ngày của chúng ta. Trong quá trình nghiên cứu một chất chống oxi hóa được tìm thấy trong trà (polyphenol), một lần nữa cho thấy trà có thể chống bệnh ung thư.

6. Uống trà thảo dược có thể giúp giảm nguy cơ đột quỵ và đau tim. Một nghiên cứu 5, 6 năm của Hà Lan nhận thấy nếu bạn uống 2-3 tách trà đen mỗi ngày thì bạn ít có nguy cơ mắc cơn đau tim đột tử hơn người không uống trà 70%. Uống trà có thể giữ cho các huyết mạch của bạn trơn mượt và không bị nghẽn, giống như nước giữ cho ống nước trong phòng tắm của bạn luôn sạch. Những đốm đỏ không mong muốn hình thành do cholesterol và tiểu huyết cầu có thể gây ra đau tim và đột quỵ

7. Trà thảo dược cho bạn một hàm răng chắc khòe và nụ cười ngọt ngào. Có một số ý kiến cho rằng uống trà làm cho răng xấu, đó là vì khi bạn uống trà mà bỏ thêm đường. Còn thật ra khi uống trà không đường bạn sẽ có hàm răng chắc khỏe do trong trà có chứa tannin và fluoride có thể làm răng sát lại gần nhau.

8.Uống trà thảo dược giúp cơ thể có đủ nước. Trước đây người ta cho rằng uống trà hay cà phê đều không cung cấp đủ nước cho cơ thể vì có chứa caffeine (chất caffeine giúp lợi tiểu). Tuy nhiên, nghiên cứu mới đây cho thấy caffeine thật sự không phải là vấn đề - có nghĩa là những thức uống chứa caffeine và trà thật sự cung cấp lượng nước cần thiết cho cơ thể. Nhưng bạn cũng đừng nên uống quá 5 tách thức uống có caffeine cùng một lúc.

9. Trà thảo dược bảo vệ hệ miễn dịch. Một cuộc thử nghiệm trên 21 người tình nguyện uống 5 tách trà mỗi ngày trong 4 tuần, người ta nhận thấy rằng hoạt động của hệ miễn dịch trong máu của người uống trà cao hơn.

10. Trà thảo dược giúp cứng xương. Xương vững chắc không chỉ nhờ sữa cho thêm vào trà. Một nghiên cứu so sánh người không uống trà và người uống trà, nhận thấy người uống trà hơn 10 năm có xương vững chắc nhất, thậm chí sau khi cân bằng cân nặng, tuổi tác, tập luyện, hút thuốc và những tác nhân nguy hiểm khác.

Với 10 lợi ích của trà thảo dược như trên, các bạn nên uống trà thảo dược mỗi ngày để tăng cường sức khỏe cho mình nhé.

Thứ Bảy, 7 tháng 9, 2013

CHỮA BỆNH BẰNG CÂY TẦM XUÂN

Tầm xuân là loại cây mọc hoang dại, một số nơi trồng làm cảnh. Trong y học cổ truyền phương Đông, tầm xuân là một vị thuốc khá độc đáo. Nó có nhiều tên khác như thích hoa, bạch tàn hoa, thích mi, ngưu cúc, tường mi, thập tỷ muội, thất tỷ muội, dã tường vi, hòa thượng đầu... Tầm xuân mọc thành bụi, lá kép lông chim, thân nhiều gai, hoa 5 cánh nhỏ bé nhưng khá đẹp với nhiều màu sắc khác nhau như hồng, đỏ, trắng, vàng...

Cây tầm xuân
Trong sách Bản thảo cương mục, nhà dược học vĩ đại Lý Thời Trân đã bàn đến tính vị, công dụng chữa bệnh của tầm xuân và cho rằng loại hoa có màu trắng là tốt hơn cả. Dân gian thường thu hái hoa, quả, cành và rễ tươi hoặc khô để làm thuốc. Tùy theo từng bộ phận của tầm xuân mà tác dụng chữa bệnh cũng có những đặc điểm khác nhau.

Hoa: Thường được thu hái vào mùa xuân và mùa hạ, dùng để chữa các chứng bệnh như:

- Cảm nắng, cảm nóng vào mùa hạ: Có các triệu chứng tức ngực, buồn nôn và nôn, có thể có nôn ra máu, môi khô miệng khát, chán ăn, mệt mỏi. Dùng hoa tầm xuân 3-9 g sắc uống hoặc hoa tầm xuân 5 g, thiên hoa phấn 10 g, sinh thạch cao 30 g, mạch môn 15 g, sắc uống hoặc hoa tầm xuân 10 g và hoa đậu ván trắng 10 g, hãm với nước sôi, chế thêm một chút đường phèn, uống thay trà.
- Nôn ra máu và chảy máu cam: Dùng hoa tầm xuân 6 g, bạch cập 15 g và rễ cỏ tranh 30 g, sắc uống.
- Ngược tật (sốt rét): Dùng hoa tầm xuân sắc uống thay trà.
- U tuyến giáp: Dùng hoa tầm xuân 5 g, hoa hậu phác 5 g, hoa chỉ xác 5 g và hoa hồng 5 g, sắc uống.
- Tiểu đường và viêm loét niêm mạc miệng mạn tính: Dùng sương đọng trên hoa tầm xuân vào buổi sớm 30 ml pha chút nước ấm uống hàng ngày.

Lá: Được thu hái quanh năm, có tác dụng sinh cơ và làm liền nhanh vết thương.

- Ung nhọt làm mủ chưa loét: Dùng lá tầm xuân sấy khô tán bột, trộn với mật ong và giấm đắp lên tổn thương.
- Viêm loét chi dưới: Dùng lá tầm xuân không kể liều lượng nấu nước rửa vết thương.
- Nhọt độc sưng nề nhiều: Dùng lá và cành non tầm xuân rửa sạch, giã nát với một chút muối ăn rồi đắp lên tổn thương.

Rễ: Vị đắng hơi sáp, tính bình, có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết và giải độc, được dùng để chữa nhiều chứng bệnh.

- Liệt mặt và di chứng liệt nửa người do tăng huyết áp: Dùng rễ tầm xuân 15-30 g sắc uống.
- Chảy máu cam mạn tính: Dùng vỏ rễ tầm xuân 60 g hầm với thịt vịt già ăn.
- Ghẻ về mùa hè: Dùng rễ tầm xuân tươi sắc uống thay trà.
- Đau răng và viêm loét miệng: Dùng rễ tầm xuân sắc uống hoặc ngậm.
- Viêm khớp, liệt bại nửa người, kinh nguyệt không đều, khí hư và tiểu tiện không tự chủ: Dùng rễ tầm xuân 15-30 g sắc uống.
- Hoàng đản (vàng da do nhiều nguyên nhân): Dùng rễ tầm xuân 15-24 g hầm với 60 g thịt lợn nạc, chế thêm một chút rượu vang, chia ăn vài lần trong ngày.
- Vết thương chảy máu: Dùng rễ tầm xuân lượng vừa đủ, sấy khô tán bột rắc vào tổn thương, cũng có thể trộn với dầu vừng để đắp.
- Rong huyết: Dùng rễ tầm xuân 30 g, ngải cứu già đốt tồn tính 10 g, cỏ nhọ nồi 30 g, tiên hạc thảo 30 g, sắc uống hằng ngày.

Quả: Vị chua, tính ấm, thu hái vào lúc chín, sấy hoặc phơi khô làm thuốc, có công dụng lợi tiểu thanh nhiệt, hoạt huyết giải độc.

- Phù do viêm thận: Dùng quả tầm xuân 3-6 g, hồng táo 3 quả sắc uống hoặc quả tầm xuân 20 g, đại hoàng 3 g, sắc chia uống 3 lần trong ngày.
- Tiểu tiện khó khăn: Dùng quả tầm xuân 10 g, mã đề 30 g và biển súc 30 g, sắc uống.
- Đau bụng khi hành kinh: Dùng quả tầm xuân 120 g sắc lấy nước, hòa thêm một chút đường và rượu vang uống ấm.
- Táo bón: Dùng quả tầm xuân 10 g, đại hoàng 3 g, sắc uống.

Nguồn: Theo Sức Khỏe & Đời Sống

HOA MÀO GÀ ĐỎ LÀM THUỐC

Mào gà đỏ có tên khác là kê quan hoa, kê công hoa, kê cốt tử hoa, mồng gà, lão lai thiểu... Theo y học cổ truyền, hoa mào gà đỏ vị ngọt, tính mát, có công dụng thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết, chỉ huyết, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như xích bạch lỵ (bệnh lỵ trực khuẩn hoặc amip), trĩ lậu hạ huyết (trĩ xuất huyết), thổ huyết (nôn ra máu), khạc huyết (ho ra máu), tỵ nục (chảy máu mũi), huyết lâm (đái buốt và ra máu), băng lậu (rong huyết, rong kinh, băng huyết), đới hạ (khí hư), di tinh, đái dưỡng chấp...

Hoa mào gà đỏ
Tăng huyết áp: Kê quan hoa 3-4 cái, hồng táo 10 quả, sắc uống hằng ngày.

Thổ huyết: Kê quan hoa (dùng cả cây) lượng vừa đủ, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng tươi 15-24 g (loại khô dùng 6-15 g) hầm với phổi lợn lượng vừa đủ trong 1 giờ rồi chia ăn vài ba lần trong ngày.

Ho ra máu: Hoa mào gà trắng 30 g, trắc bá diệp 30 g, cỏ nhọ nồi 30 g, sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà tươi 24 g, rễ cỏ tranh tươi 30 g, sắc uống.

Lỵ trực khuẩn hoặc amip: Dùng hoa mào gà sắc với rượu uống; nếu là xích lỵ (phân có máu) dùng hoa màu đỏ, bạch lỵ (phân chỉ có nhày) dùng hoa màu trắng.

Thoát giang hạ huyết (lòi dom chảy máu): Kê quan hoa và phòng phong lượng bằng nhau, sấy khô tán bột, vê thành viên to bằng hạt ngô đồng, mỗi ngày uống 70 viên với nước cơm khi đói. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng sao 30 g, tông lư thán 30 g, khương hoạt 30 g, tán thành bột uống mỗi lần 6 g với nước cơm.

Tiểu buốt và ra máu: Hoa mào gà trắng đốt tồn tính, mỗi ngày uống 15-20 g với nước cơm hoặc dùng hoa mào gà 15 g sắc uống.

Di tinh: Hoa mào gà trắng 30 g, kim ti thảo 15 g, kim anh tử 15 g, sắc uống.

Nhọt độc vùng gáy: Hoa mào gà tươi, nhất điểm hồng tươi và liên tử thảo tươi lượng bằng nhau, rửa sạch giã nát, chế thêm một chút đường đỏ rồi đắp vào tổn thương.

Trĩ lở loét: Hoa mào gà 3 g, ngũ bội tử 3 g, một chút băng phiến, tất cả tán bột, trộn với mật lợn rồi bôi lên vùng lở loét.

Bế kinh: Hoa mào gà tươi 24 g hầm với 60 g thịt lợn nạc, chia vài lần ăn trong ngày.

Kinh nguyệt quá nhiều: Hoa mào gà lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, uống mỗi lần 6 g khi đói với một chút rượu. Hoặc dùng bài hoa mào gà sao cháy tán bột, uống mỗi lần 6-9 g với nước ấm.

Kinh nguyệt không đều: Hoa mào gà đỏ và trắng mỗi loại 9 g sắc uống. Hoặc dùng bài hoa mào gà trắng 15 g, long nhãn hoa 12 g, ích mẫu thảo 9 g, thịt lợn nạc lượng vừa đủ, hầm ăn, nếu có kèm khí hư thì gia thêm vỏ trắng rễ tần bì 9 g.

Khí hư: Nếu là bạch đới (khí hư màu trắng) dùng hoa mào gà trắng, xích đới (khí hư có màu đỏ) dùng hoa mào gà đỏ, sấy khô tán bột, mỗi ngày uống 9 g vào sáng sớm khi đói. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, bạch truật 9 g, bạch linh 9 g, bông mã đề tươi 30 g, trứng gà 2 quả, sắc uống.

Thai lậu (có thai không đau bụng mà thỉnh thoảng ra máu): Hoa mào gà trắng sao cháy, long nhãn 10 g, sắc nửa rượu nửa nước uống.

Rong huyết, rong kinh, băng huyết: Hoa mào gà khô 24 g sắc uống. Hoặc: Hoa mào gà trắng 15 g, phòng phong 6 g, tông lư thán 10 g, sắc uống. Hoặc: Kê quan hoa và trắc bá diệp lượng bằng nhau, sao cháy tồn tính, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 6 g.Mày đay: Kê quan hoa dùng cả cây sắc uống và ngâm rửa, nếu nốt sẩn màu đỏ thì dùng hoa màu đỏ, nếu sắc trắng thì dùng hoa màu trắng.

Tác giả: Thạc Sĩ Hoàng Khánh Toàn
Nguồn: http://vnexpress.net